Chuyện với Thanh – P2.C6: Nguyễn Ái Quốc

Thanh thấy buổi học hôm nay thế nào?

Tớ thấy đúng là nhiều thứ phải “tiêu hóa”. Con đường tích lũy tri thức mà thầy kể hôm nay Học – Hành – Du – Khốn hay quá. Sao trước đây không ai nói. Toàn bắt học thôi.

Mẹ tớ còn bảo học đại học xong, cố gắng làm luôn thạc sĩ, tiến sĩ con ạ. Liệu học thế có quá nhiều không, và cái nhìn về cuộc đời sẽ bị lệch lạc, đóng khung theo một khuôn lý thuyết nào đó?

Mà bạn đã “Hành” cái gì bao giờ chưa thế?

“Hành” suốt, nhưng chẳng liên quan gì đến học ở trường cả. Bố mẹ tớ ở quê nuôi tôm. Tớ phải đi rải thức ăn cho tôm. Mà nhìn tôm ăn cũng mê lắm bạn nhé.

Hehe, nhà tớ làm hàng vàng, tớ toàn phải giúp mẹ đếm tiền mặt từ trong bao…

Không biết mình thu nhập được tri thức gì từ những “Hành” đấy nhỉ. Nhưng Thanh thì biết mình sẽ làm gì chiều mai.

Em lại ra vườn hồng. Nhưng lần này cầm theo một cuốn sách. Chính là cuốn “những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch.”

Cách viết đơn giản, trực diện, hấp dẫn. Chỉ có người trong cuộc mới có thể viết lại được như thế này thôi. Trần Dân Tiên chắc chắn là Hồ Chí Minh rồi.

Vow, cái gì đây. Có người đã đi cùng với Tất Thành trên chuyến tàu đó. Trong sách viết này:

Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi tầu hạng nhất cùng gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp học. Trông thấy Ba, ông ta gọi anh lại và thân mật bảo: “Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn…” Anh Ba lễ phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không

Tra ngay wiki nào, Bùi Quang Chiêu sinh ngày 15 tháng 10 năm 1873, quê ở làng Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, Bến Tre. Em gái ông là Bùi Thị Lan là bà nội của Trần Lệ Xuân, nghe quen quen. (Bà này là vợ Ngô Đình Nhu một nhân vật rất nổi tiếng thời Việt nam Cộng hòa.)

Bùi Quang Chiêu cũng yêu nước nhiệt thành cổ xuý cho phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh cũng như phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Ông chủ trương “Pháp Việt đề huề” và đã gặp Nguyễn Ái Quốc ở Paris, nhưng không tán thành con đường của Quốc. Sau đó ông làm quan cho Pháp và bị Việt minh xử tử năm 1945. Tên của ông được đặt cho 1 con đường ở thị trấn Mỏ Cày, Bến Tre.

Hay nhỉ, sao ông Chiêu không nhắc đên chuyện đã gặp Thành? Ông không biết đó là Nguyễn Ái Quốc hay là lại một chiêu “qua người” nữa của HCM. Thanh thực sự băn khoăn. Dù sao cũng có những người đã ở trên con tàu đó cùng với cậu Văn Ba. Thanh tò mò tra tiếp wiki thì ra thông tin sau:

Trong kỷ yếu toạ đàm ““HỒ CHÍ MINH HÀNH TRÌNH CỨU NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA DỤC THANH HỌC HIỆU VÀ LIÊN THÀNH THƯƠNG QUÁN” năm 2006 có người đưa ra chứng cứ lịch sử quan trọng về 2 việc:
1) Cụ Trần Lệ Chất và cụ Hồ Tá Bang đứng ra lo hộ chiếu cho Nguyễn Tất Thành
2) LTTQ đã cho người ra bến tàu trao cho NTT 27 đồng bạc Ðông Dương, nhưng NTT ngần ngừ và chỉ cầm 18 đồng.
Nội dung thứ nhất có trong Liên Thành Thông Sử của Hồ Tá Khanh. Chứng cứ của nội dung thứ 2 gồm bản chép lưu tay của ông Võ Văn Trang – kế toán viên của LTTQ và 9 đồng bạc do ông Võ Huy Quan – nguyên CB Bảo tàng TP HCM – còn giữ lại đến ngày nay.

Bà Đặng Hoàng Ánh, nguyên mẫu của cuốn tiểu thuyết “Kỳ nữ quận chúa biệt động” của nhà văn Đặng Văn Hưng, chính là con gái của ông Trần Lệ Chất của công ty Liên Thành nêu trên, còn khẳng định: Cha tôi sinh năm 1862, đồng niên và đồng môn với cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Cha tôi là người gốc Hoàng Phái triều Nguyễn và là một Nhân sĩ yêu nước đầu thế kỷ 20.

Trong “Loạn Duy Tân”, cha tôi phải cải họ thay tên là Nguyễn Như Chuyên chạy sang Anh quốc. Sau đó, về nước lấy vợ ở Thanh Oai, Hà Tây người lấy lại tên là Trần Lệ Chất (tự Giá Khanh). Vì cha tôi thông thạo nhiều ngoại ngữ, nên bạn bè đã tiến cử với Công sứ Pháp Claude Léon Lucien Garnier ở Phan Thiết – Bình Thuận và được ông ta trọng dụng cho làm thông phán.

Hồi đó, Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh còn thành lập “Liên Thành thương quán” kinh doanh nhiều mặt hàng như: Nước mắm, vải vóc, tơ lụa, thuốc Bắc… Hội quán này được Công sứ Pháp rất ủng hộ và ông ta cũng có cổ phần trong đó. Dục Thanh Học hiệu là một cơ sở của Liên Thành được thành lập năm 1907, dạy cho con em người yêu nước và lao động nghèo theo nội dung yêu nước và tiến bộ. Thanh nhớ là trong chương 4, thầy đã nhắc đến việc Nguyễn Tất Thành dạy học ở Dục Thanh

Bà Ánh kể tiếp:
Cuối tháng 5 năm 1911, Quan Công sứ Bình Thuận Claude Léon Lucien Garnier đã quyết định cử cha tôi là Nguyễn Như Chuyên (tức Trần Lệ Chất) sang Pháp và Anh lo việc buôn bán cho Công ty Liên Thành. Và ông Chất đã thu xếp để đổi tên Thành thành Văn Ba và xin luôn cấp phép để Ba để đi cùng với ông. Chỉ đến khi lên tàu là Amiral Latouche Tréville, Ba mới xin phép ông Chất xin làm thêm phụ bếp, đến Pháp thì hai người chia tay nhau.

Đúng là nghe có lý hơn hẳn. Chứ Thanh cứ băn khoăn mãi, một thanh niên không quen biết, không tiền bạc làm sao xin lên được tàu Pháp. Có điều quyết định làm phụ bếp chắc chắn là một quyết định đã được Nguyễn Tất Thành dự liệu từ trước, ngoài sự chờ đợi của các cha chú.

Cuốn sách quá hấp dẫn! Một con đường mới. Mỗi trang sách như một khúc ngoặt. Mở ra một bức tranh khác. Hệt như hồi Thanh được ba mẹ cho đi Hà Giang. Đường đèo ngoằn ngoèo, mỗi khung quanh lại mở ra một khung cảnh tuyệt đẹp.

Cứ thế bị cuốn đi. Cho đến đoạn nhân vật chính tâm sự với thư ký Rosa của đại hội Tour 1920:

“Rất giản đơn. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản, và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều Quốc tế thứ 3 rất chú ý đến vấnđề giải phóng thuộc địa. Quốc tế thứ 3 nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Còn Quốc tế thứ 2 không hề nhắc đến vậnmệnh các thuộc địa. Vì vậy tôi đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ 3. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu. Đồng chí đồng ý với tôi chứ”

Thì Thanh biết lần sau sẽ hỏi thầy gì rồi.

Thưa thầy, lần này em hỏi luôn ạ: Tại sao một thanh niên 20 tuổi, từ một đất nước nô lệ, mới 9 năm trước mới lần đầu tiên được đi nước ngoài, mà chỉ là chân phụ bếp trong một con tàu vận tải, lại có thể được xuất hiện tại đại hội thành lập một chính đảng quan trọng của không những của nước Pháp mà còn có ảnh hưởng lớn ở châu Âu lúc đó?

Cám ơn em, một câu hỏi rất hay. Một cú nhảy vọt về địa vị đúng không? Mới trong chương trước, chúng ta còn đang chìm trong “sương mù huyền thoại” không hiểu Nguyễn Tất Thành đã đi đâu làm gì? Mà giờ đường đường là đại biểu tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp tách ra từ Đảng Xã hội Pháp.

Bọn em thử xem lại bức ảnh này nhé. Nhân vật chính của chúng ta đó. Vẫn còn trẻ lắm, và quá ngây thơ so với các các đồng chí xung quanh. Những “đồng chí” Tây béo tốt, chắc chắn là có địa vị xã hội cao, xung quanh cậu là ai? Ai đã mời cậu đến, vì thành tích gì? Và cậu đã phát biểu gì ở đó? Có điều chắc chắn là từ sau bức ảnh này, người thanh niên tự xưng là Nguyễn Ái Quốc này đã trở thành lãnh đạo không cần bàn cãi của phong trào cách mạng Việt Nam.

Giờ quay lại Duiker một chút. Ông đã viết về giai đoạn này như sau:

Thủ đô của nước Pháp vẫn là trung tâm chính trị và văn hoá của thế giới phương Tây. Rất nhiều những nhà tư tưởng lỗi lạc của thế kỷ 19 đã sống ở Paris. Không khí cách mạng càng sục sôi trong giai đoạn cuối chiến tranh, khi sự tàn bạo của cuộc chiến đổ thêm dầu vào phong trào chống chủ nghĩa tư bản.

Paris trở thành điểm đến lý tưởng cho các thanh niên châu Á ham mê chính trị. Việt Nam chiếm số lượng lớn nhất trong cộng đồng hải ngoại tại Paris thời điểm đó: khoảng 50.000 người, tuy đa phần là giai cấp cần lao, nhưng cũng có vài trăm con em trí thức. Trong bầu không khí bị chính trị hoá cao độ, lớp sinh viên này đã hoàn toàn chín muồi cho những hoạt động chính trị hướng tới độc lập dân tộc. Rất tiếc là chẳng có gì xảy ra cả. Trong giới có ảnh hưởng, một số muốn mặc cả với Pháp cho thêm quyền tự chủ đổi lấy việc đã tham gia bảo vệ mẫu quốc trong chiến tranh, một số thì lại bí mật đi đêm với Đức để hy vọng Pháp thua trận. Theo cảnh sát Pháp, Phan Chu Trinh và bạn ông là Phan Văn Trường đã thử cả hai phương án này. (Phan Văn Trường sinh năm 1878 tại Hà đông, học luật và trở thành công dân Pháp năm 1910). Cả hai đã thành lập “Hội đồng Bác ái” trước khi chiến tranh xảy ra, nhưng chỉ thu thập được khoảng 20 chục thành viên. Do có tin đồn về việc họ đang dự kiến lật đổ chính quyền tại Đông Dương, cả hai đã bị tạm giam ngay sau khi chiến tranh nổ ra. Chính vì lý do đó mà những bức thư Thành gửi cho Trinh đều rơi vào tay cảnh sát Pháp. Sau khi được tha, Trường và Trinh không dám nghĩ đến chuyện thách thức chế độ thực dân nữa. Cộng đồng Việt Nam hải ngoại trở nên trì trệ về mặt chính trị.

Bởi thế, sau khi đến Paris, Thành nhanh chóng tham gia vào các hoạt động kích động công nhân Việt Nam trong bối cảnh các cuộc chống đối ở Pháp ngày một nhiều do sự kéo dài khốc liệt của chiến tranh. Thành muốn nhanh chóng thay đổi tình hình đó. Trông bề ngoài không hoàn toàn bắt mắt, bạn bè đều phải thừa nhận anh có một đôi mắt sáng và cái nhìn mãnh liệt như xuyên thấu suy nghĩ của người đối thoại.

Một nhà hoạt động cách mạng, Boris Souvarine, sau này trở thành sử gia, nhớ lại đã từng gặp Thành ngay sau khi anh từ London trở về. Ông cho rằng đó là vào khoảng năm 1917. Thành thuê 1 căn hộ dơ dáy tại Montmartre và tham gia sinh hoạt với chi bộ đảng Xã hội Pháp tại đó. Souvarine đã giới thiệu Thành với Leo Poldes, người sáng lập câu lạc bộ Faubourg. Các buổi nói chuyện diễn ra thường xuyên về tất cả các chủ đề từ chính trị tới những điều huyền bí. Souvarine nhớ lại là Thành rất bẽn lẽn, thậm chí khúm núm, nhưng hoà nhã và ham học. Mọi người còn gọi anh là “Người câm ở Montmartre”.

Leo Poldes là người đã rèn luyện tính nhút nhát của Thành bằng cách bắt anh phát biểu trước cử toạ. Trong bài phát biểu đầu tiên của mình miêu tả sự thống khổ của nhân dân thuộc địa, Thành thậm chí còn nói lắp. Không mấy người trong cử toạ hiểu, nhưng họ thông cảm với chủ đề và Thành được hoan hô nhiệt liệt. Sau đó Thành được mời phát biểu thường xuyên.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn nhà văn Mỹ Stanley Karnow, Leo đã nhận xét về Thành trong thời gian anh tham gia câu lạc bộ Faubourg: “có hơi hướng của Chapline, hài hước nhưng buồn, vous savez”. Leo đặc biệt có ấn tượng về đôi mắt sáng và lòng ham mê học hỏi của Thành. Anh đã vượt qua được nỗi sợ hãi phải phát biểu trước công chúng và tích cực tham gia vào các cuộc tranh luận. Qua đó Thành quen biết những nhân vật nổi tiếng trong giới trí thức cách mạng Pháp: nhà văn xã hội Paul Louis, nhà quân sự Jacques Doriot, tiểu thuyết gia Henri Barbeusse với những tác phẩm miêu tả sự cùng cực của binh lính trên mặt trận.

Đã gần 30 tuổi, và hầu như kinh nghiệm nghề nghiệp chỉ loanh quanh mấy việc phụ bếp hoặc dạy học, lại không có giấy phép làm việc Thành không thể xin được việc ổn định. Anh phải làm đủ việc từ bán món ăn Việt Nam, kẻ bảng hiệu, dạy chữ Hán, làm nến… Cuối cùng anh kiếm được một chân tô màu ảnh đen trắng trong một hiệu ảnh của Phan Chu Trinh. Vào những thời gian rỗi, Thành hay ngồi lì trong thư viện và đọc các tác phẩm của Secxpia, Tolxtoi, Lỗ Tấn, Hugo, Zola, Dickens. Gia tài của anh chỉ có cái va li và thường xuyên chuyển chỗ trong những nhà trọ chật hẹp của khu công nhân Paris.

Hè năm 1919, được sự bảo trợ của Trinh và Trường, Thành thành lập Hội ái quốc Annam. Ngoài những thành viên trí thức, Thành còn lôi kéo thêm một số thành viên từ tầng lớp lao động mà anh quen từ hồi còn làm thuỷ thủ tại Marseilles, Le Havre, Toulon. Bề ngoài, Hội không đặt ra những mục tiêu cực đoan để lôi kéo đông đảo sự tham gia của cộng đồng người Việt. Việc dùng chữ Annam thay cho Việt Nam muốn cho chính quyền thấy Hội không phải là mối nguy hiểm cho chế độ thực dân. Nhưng thực chất, ngay từ đầu, Thành muốn biến hội thành một lực lượng hiệu quả chống lại chế độ thực dân ở Đông Dương.

Năm 1919, đại diện các nước Đồng minh thắng trận họp tại Versailles để đàm phán điều kiện đầu hàng của khối Trung tâm và tổ chức thế giới sau chiến tranh. Tổng thống Mỹ Wilson đã mang lại niềm hy vọng cho các dân tộc thuộc địa bằng luận cương 14 điểm, trong đó thừa nhận quyền tự quyết của tất cả các dân tộc.

Đây có lẽ là thời điểm mà chàng thanh niên có năng khiếu tiên đoán được thời cuộc, chờ đợi, trong suốt “khoảng lặng” những năm tháng lênh đênh Học – Hành – Du – Khốn của mình. Các khoảng lặng bí ẩn mà các nhà nghiên cứu gọi một cách mỹ miều là “missing years” đó xuất hiện như một “khuôn mẫu” trong cuộc đời HCM không chỉ một lần. Và thường báo hiệu một sự bùng nổ.

“Khoảng lặng” này, chính là thời gian Nguyễn Tất Thành “nằm im” luyện công chờ đợi. Cậu đã làm gì? Làm tất cả mọi thứ để có thể sống. Đi tất cả mọi nơi có thể đi để quan sát, ghi chép. Đọc tất cả những sách có thể đọc để tích lũy kiến thức. Và lựa chọn làm phụ bếp trên tàu viễn dương là lựa chọn tốt nhất để cậu có thể đạt được tất cả các mục đích đó. Cậu hiểu rằng cần phải có một sự kiện tầm cỡ thay đổi thế giới thì mình mới có cơ hội.

Chính những “khoảng lặng” mà HCM tưởng như là “nằm im” chịu trận đó, mới là tính cách nổi bật nhất của phong cách lãnh đạo của Cụ. Nói nôm na, trong bóng đá, các bậc thầy về huấn luyện, hoặc các cầu thủ vĩ đại đều thành danh vì cách hành xử trong những thời điểm “không có bóng” chứ không phải kỹ thuật qua người lắt léo, tung người vô lê….

Ngày 18/6/1919, Nguyễn Tất Thành, người mà trong vòng vài tháng sẽ được biết đến với cái tên Nguyễn Ái Quốc, trao tận tay Bản Yêu sách của nhân dân Annam đến các nhân vật quan trọng trong Quốc hội Pháp và tới Tổng thống Pháp. Anh cũng là người đã đi dọc các hành lang của điện Versailles, trao cho các đoàn đại biểu của các nước đồng minh lớn, thu xếp để nó được đăng trên tờ L’Humanité, và nhờ bạn bè trong giới công nhân và thủy thủ phân phát 6000 bản trên đường phố Paris và tuồn về Đông Dương.

Ngôn ngữ của bản Yêu sách rất ôn hoà, không đặt điều kiện độc lập dân tộc mà chỉ đòi hỏi quyền tự quyết về chính trị, sự bình đẳng giữa người Pháp và người Việt, quyền tự do báo chí, hội họp, bãi bỏ các loại thuế hà khắc. Tiếng Pháp sử dụng rất nhuần nhuyễn, nên nhiều người sau này cho rằng có lẽ nội dung của nó do Phan Văn Trường, vốn là một luật sư soạn thảo.

Nhưng tác giả là ai không quan trọng. Đó là một quả bom truyền thông. Cậu trai này là ai, đại diện cho ai mà dám trao “Yêu sách” cho các cường quốc thế giới?

Bản “Yêu sách” đã làm kinh ngạc giới chức chính trị Pháp. Ngày 23/6, tổng thống Pháp viết thư cho toàn quyền Albert Sarraut, đề nghị xem xét và xác định danh tính tác giả. Tháng 9, Thành chính thức xác nhận mình là Nguyễn Ái Quốc trong một cuộc trả lời phỏng vấn một phóng viên người Mỹ của một tờ báo Trung Hoa tại Paris. Mấy ngày sau, mật thám Pháp đã xác định được Nguyễn Ái Quốc tên thật là Nguyễn Tất Thành, con ông Nguyễn Sinh Sắc và đã tham gia xúi giục nổi loạn ở Huế năm 1908.

Hành động của Nguyễn Ái Quốc đã gây tiếng vang to lớn trong phong trào yêu nước Việt Nam tại Pháp và Đông Dương. Tin từ mật thám Đông Dương báo về: bản Yêu sách đang được phân phát trên các đường phố Hà Nội và đã gây nên cuộc thảo luận sôi nổi trong báo giới. Người già ngạc nhiên thán phục. Thanh niên trẻ thì được như tiếp thêm năng lượng mới. Ai cũng muốn theo Nguyễn Ái Quốc.

Bản Yêu sách cũng đã mang lại cho Nguyễn Ái Quốc sự kính trọng của các đồng chí trong Đảng Xã hội Pháp (FSP). Mặc dù đã tham gia Đảng từ ngay khi về Pháp, nhưng theo lời của Zecchini, Thành chưa bao giờ được coi là thành viên đầy đủ cho đến khi Bản Yêu sách được công bố.

Từ năm 1920 trở đi Ngài (Monsieur) Nguyễn tham gia tích cực hơn các hoạt động chính trị của FSP, Liên đoàn lao động và Liên minh quyền con người. Nhưng có vẻ như ông cũng dần dần nhận ra rằng, các đồng chí của ông chẳng mấy quan tâm đến các vấn đề thuộc địa. Marx có khuynh hướng trọng Âu và hội của ông cũng vậy. Thuộc địa, nói cho cùng, cung cấp của cải cho cách mạng và công việc cho các công nhân. Ngài Nguyễn phải bất mãn kêu lên với các đồng chí của mình: “nếu các đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, không bênh vực cho các dân tộc thuộc địa, thì các đồng chí làm cách mạng gì?”

Khi Lênin đứng lên kêu gọi cuộc thánh chiến chống chủ nghĩa tư bản, các thành viên của FSP phải lựa chọn chỗ đứng của mình. Trước thềm đại hội Tour vào cuối tháng 12, các cuộc họp cấp địa phương diễn ra liên miên, với hai nhóm tả hữu và lớp lưng chừng dưới cờ của Jean Longuet. Nguyễn Ái Quốc ít tham gia tranh luận, khi phải phát biểu, ông kêu gọi sự đoàn kết và chú ý đến các vấn đề thuộc địa: “Các đồng chí, chúng ta đều là những nhà xã hội. Dù là quốc tế Hai, Hai rưỡi, hay Ba, chúng ta đều cùng muốn giải phóng giai cấp công nhân… Trong lúc các đồng chí tranh cãi ở đây, đồng bào của tôi đang chết dần chết mòn”

Nguyễn Ái Quốc được mời đi dự đại hội với tư cách đại diện cho nhóm các đảng viên từ Đông Dương.

Đại hội khai mạc ngày 25/12/1920 trong một trường dạy đua ngựa cạnh nhà thờ St. Julian trên bờ nam sông Loire. Chủ đề chính của đại hội là có tham dự Quốc Tế Cộng Sản hay không?

Với bộ comple rộng thùng thình trên một cơ thể mảnh khảnh của đại biểu châu Á duy nhất, Nguyễn Ái Quốc nổi bật giữa một đám hàng trăm tay người Âu râu ria xồm xoàm. Vì thế ảnh Quốc được báo Le Matin đăng ngay sáng hôm sau. Lần theo bức ảnh, cảnh sát mò đến định tóm Nguyễn Ái Quốc, nhưng các đại biểu đã xúm vào bảo vệ được Quốc.

Nguyễn Ái Quốc đã lên diễn đàn ngay hôm đầu tiên của hội nghị. Ông nói một mạch, không cần giấy tờ và đi thẳng vào vấn đề, đả kích sự tàn bạo của chế độ thực dân và kêu gọi các nhà xã hội hành động ủng hộ các dân tộc bị áp bức. Bài diễn thuyết của ông bị Jean Longuet cắt đứt với lý do rằng ông ta đã bàn đến chuyện đấy rồi. Quốc đã nhanh trí ví von ngay với quan điểm của Marx (ông của Jean Longuet): “tôi đành phải áp dụng chuyên chính của sự im lặng”. Theo Quốc, chỉ có gia nhập quốc tế III mới chứng tỏ rằng FSP đánh giá được tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa. “Nhân danh loài người, nhân danh tất cả các nhà xã hội cánh hữu và cánh tả, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các đồng chí. Hãy cứu chúng tôi.” đó là những lời cuối cùng của bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc.

Tại đại hội Tour, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra chính kiến rõ ràng, ông không chỉ quan tâm đến sự thành công của cách mạng quốc tế mà còn cả vận mệnh của dân tộc mình. Trong một nhận xét gửi cho bạn mình Quốc viết: “Tôi không có may mắn được học hành trong trường đại học. Nhưng tôi đã được học trong cuộc sống từ lịch sử, xã hội đến khoa học quân sự. Người ta phải yêu quý điều gì? Khinh thường điều gì? Người Việt Nam chúng tôi yêu độc lập, lao động và tổ quốc”.

Ngày 27, Cachin chính thức đề nghị FSP chấp nhận những điều kiện của Lênin và gia nhập quốc tế III. Hơn 70% đại biểu ủng hộ. Những người đối lập đã rời khỏi hội trường để phản đối. Các đại biểu còn lại đã biểu quyết tách ra khỏi FSP và thành lập Đảng cộng sản Pháp (FCP).

Nhưng Nguyễn Ái Quốc cũng bắt đầu cảm thấy thất vọng về các đồng nghiệp của mình ở FCP. Sau khi xuất hiện rùm beng, Hội Liên thuộc địa nhanh chóng bị lãng quên. Theo Nguyễn Ái Quốc ngay cả báo Nhân đạo cũng không quan tâm đến vấn đề đúng mức. Nguyễn Ái Quốc cho rằng các báo tư sản còn miêu tả thuộc địa kỹ hơn, thậm chí đã tạo cho mọi người hình ảnh các nước thuộc địa hết sức mỹ mãn: “cát, mặt trời, gió biển, những hàng dừa xanh và các thổ dân loè loẹt”.

Trong một lần đại hội FCP vào tháng 10 năm 1922, Nguyễn Ái Quốc gặp Dmitri Manuilsky, đại diện của QTCS tại Liên xô. Ông này rất đắc ý nghe Quốc đả phá kịch liệt sự thiếu quan tâm đến các vấn đề thuộc địa của FCP. Nhiều tháng sau, khi Mauilsky được phân công chuẩn bị bản báo cáo về các vấn đề dân tộc và thuộc địa cho Đại hội 5 QTCS mùa hè năm 1924, ông lập tức nhớ đến chàng thanh niên Việt Nam đầy nhiệt huyết. Nguyễn Ái Quốc được mời đến Moscow làm việc cho QTCS. Ở lại Paris bây giờ cũng quá nguy hiểm cho Quốc.

Ngày 13/6/1923, sau khi không để lại một chút nghi ngờ nào cho 2 “trợ lý” của cảnh sát Pháp, Nguyễn Ái Quốc đi ra cửa sau của một rạp chiếu bóng, đến Gare du Nord và lên tàu đi Berlin trong vai một nhà buôn châu Á giàu có. Đến Berlin, Nguyễn Ái Quốc đi tiếp đến Hamburg, lên tàu Karl Liebknecht đến nước Nga Xô viết. Ngày 30/6 Nguyễn Ái Quốc cập bến Petrograd với hộ chiếu của một nhà buôn Trung quốc có tên là Trần Vang.

Nguyễn Ái Quốc đã chính thức nói không với con đường cải cách của Phan Chu Trinh để đi theo Vladimir Lênin. Phan Chu Trinh hiểu thời của mình đã hết. Tháng 9/1923, ông đã viết cho các đồng chí của mình: “Mặc dù Nguyễn Ái Quốc còn trẻ và có thể có những hành động thiếu suy nghĩ. Nhưng điều quan trọng là anh ta có một trái tim của con người yêu nước. Anh đã chọn con đường cô đơn và đầy gian khó để giải phóng dân tộc mình. Và tất cả chúng ta phải kính trọng trái tim can đảm đó.”

Các em thấy không. Nguyễn Tất Thành đã kiên trì “nằm im” trong 8 năm để chờ cơ hội. Cậu chỉ có một cơ hội duy nhất và đã tận dụng nó một cách ngoạn mục. Nguyễn Tất Thành thanh niên 30 tuổi lang thang không nghề nghiệp, không có chỗ ở cố định, thành tích chính trị duy nhất là phiên dịch cho một cuộc biểu tình chống tăng thuế ở Huế năm 1908, giờ đã là Nguyễn Ái Quốc, vượt qua các bậc tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, trở thành biểu tượng cho con đường mới của cách mạng Việt Nam.

Trong kinh doanh cũng vậy các em ạ. Không ít các công ty, ngay mới thành lập, cứ hão huyền chờ đợi và đòi đánh những “trận đánh lớn”, để cho đội ngũ xộc xệch tản mát hoặc tan rã, hoặc đến khi lâm trận thật thì thất bại, thua lỗ làm nản lòng anh em. Đọc báo thì thấy hoành tráng, nhưng trong ruột thì yếu đuối.

Khi mới lập Fsoft, bọn thầy cũng đã bị mắc lỗi đúng như vậy. Nhưng bọn thầy đã nhanh chóng nhận ra rằng, quản trị đội quân thực hiện được thật nhiều các hợp đồng nhỏ giữa các trận đánh lớn, để vừa có tiền vừa luyện quân vừa tăng trưởng, đợi thời cơ để thực hiện các dự án lớn, xác định mặt bằng giá trị cũng như đẳng cấp của công ty, mới là mục tiêu quan trọng nhất của tổ chức!

Hôm nay có lẽ thế là đủ. Các em cũng cần thời gian để ngẫm nghĩ

One thought on “Chuyện với Thanh – P2.C6: Nguyễn Ái Quốc

Comments are closed.