Trời thu nắng nhẹ, mọi việc quá yên bình, cứ như chưa bao giờ có những ngày gió bụi của cuộc cách mạng 80 năm trước.
Nhưng Thanh biết không phải như vậy. Từ những bài giảng về Ảnh hưởng của Chính trị quốc tế ở lớp thầy Sơn mà em đang theo học, thế giới đang biến động hơn bao giờ hết.
Công nghệ thay đổi liên tục và mang theo những lời đe dọa. Chưa bao giờ em cảm thấy khó khăn khi đọc những bài báo công nghệ hiện nay. Toàn kiểu, không theo công nghệ này thì sẽ bị đưa ra rìa xã hội, không học công nghệ kia thì mãi mãi thành ngu dốt. Em cũng không hiểu tại sao người ta lại cứ nói như vậy. Công nghệ suy cho cùng, được phát minh ra để làm cho người ta dễ sống hơn chứ.
Môi trường sống, vốn được coi là một yếu tố đương nhiên phải có như hơi thở, bỗng trở thành một chủ đề gây tranh cãi. Núi lở, sông tràn, băng tan, là tại CON NGƯỜI hay tự nhiên nó sẽ như thế. Bất kể dự án nào bây giờ muốn thực hiện được đều phải có đánh giá tác động môi trường, đôi khi thái quá đến mức Thanh phải tự hỏi: hay là việc bản thân mình sinh ra trên đời này đã phá hoại môi trường.
Còn địa chính trị nữa. Liên xô tan rã, tưởng đã không còn đối đầu về tư tưởng, thế giới trở về thời thái bình hân hoan. Vậy mà căng thẳng khắp nơi. Châu Phi, Trung Đông đã đành. Ngay giữa châu Âu cũng đánh nhau loạn cào cào, đỉnh điểm là cuộc chiến Nga – Ukr có nguy cơ lôi cả thế giới vào vòng chiến.
Em thấy hoang mang
Nên câu nói của HCM dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng, như một làn gió mát: Dĩ bất biến, ứng vạn biến. Thế giới hóa ra lúc nào cũng đầy biến động và chất chứa thách thức. Việt Nam, tháng 5/1946 đúng là “Vạn biến” vậy mà HCM hóa giải chỉ cần 1 chiêu “Dĩ bất biến”
Mà dĩ bất biến là gì?
Suy tư vừa thôi, khéo thành bà già đấy. Em xem kìa các bạn đều ra đây để chụp ảnh với muôn hoa đang khoe sắc, ra với các bạn đi.
Dạ thưa thầy, em vẫn chưa hiểu “Dĩ bất biến” là gì?
Thế này nhé, đầu óc em đang rối tung lên đúng không? Đó là “vạn biến”. Bây giờ em nhìn bông hoa hồng kia. Nhìn kỹ nhé. Nó có một mình, lá đã úa vàng mà nó vẫn thản nhiên khoe sắc. Đó là “bất biến” đấy. Em có thấy nhẹ người đi không?
Còn nói nghiêm túc hơn, cách đây 3 năm, khi đến phát biểu khai giảng ở một trường đại học, thầy cũng phải đối mặt với câu hỏi tương tự của các bạn học sinh: thế giới quá biến động và bọn em phải làm gì?
Thầy có đăng 1 status trên face, với tiêu đề VUCA: Volatility Biến Động – Uncertainty Bất Định – Complexity Phức Tạp – Ambiguity Mơ Hồ. Đó chính là thế giới mà chúng ta đang sống, Thế giới VUCA. Nội dung đại loại như sau:
VUCA có thể đến từ những thay đổi sâu sắc và nhanh chóng về công nghệ. Smartphone trong túi quần các em mạnh hơn 1000 lần chiếc máy tính mà FPT có ngày mới thành lập. Robot ko còn là điều gì khủng khiếp khi ai cũng có thể mua một cái máy lau nhà tự chui vào từng ngóc ngách. Tây có Elon Musk đang thử nghiệm chuyện lên sao Hỏa ở và gắn chip vào não người để không quên một điều gì cả. Tàu có Jack Ma bán hàng ra khắp thế giới, thì ta cũng có Hà Đông viết game cho cả thế giới chơi.
VUCA có thể đến từ những thay đổi sâu sắc về địa chính trị trên thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô đã chấm dứt thế giới 2 cực mở đầu cho sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ. Mỹ từ bỏ vị trí sen đầm thế giới lạnh nhạt với các nghĩa vụ của Đồng Minh, bỏ mặc Trung Đông, Tây Á, châu Phi loạn lạc.
VUCA cũng có thể ập từ trên trời rơi xuống như con nCovy này. Đột nhiên cả thế giới dừng lại, hàng triệu triệu người mất đi nguồn sống.
Thuật ngữ này lần đầu tiên được quân đội Mỹ sử dụng khi chiến tranh lạnh kết thúc chỉ áp dụng trong các tình huống đối phó chiến tranh, sau đó được Havard biến thành lý luận đưa vào lớp dạy cho lãnh đạo các công ty đang cạnh tranh cật lực.
Giờ thì đến lượt các em, những sinh viên đang chuẩn bị bước vào trường. Thầy và các em ở vào vị trí như nhau để đối phó với thế giới VUCA này, có chăng là thầy chỉ phải sống với nó chừng 20 chục năm nữa. Thậm chí thầy có thể mặc kệ nó. Còn các em sẽ có cả cuộc đời để thích nghi.
Vậy chúng ta phải làm gì?
Ngày 31-5-1946, khi chính quyền cách mạng còn đang trong trứng nước, tương lai đầy VUCA. Cụ Hồ phải sang Pháp đàm phán để đòi công nhận nước VNDCCH. Quyền Chủ tịch nước được giao cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Tiễn Cụ Hồ ra sân bay, cụ Huỳnh hỏi– Nước nhà đang bề bộn công việc, cụ lại đi vắng dài ngày thì tôi biết làm sao? Xin cụ cho tôi một lời khuyên. Cụ Hồ trả lời – Tôi vì đại sự Quốc gia phải đi vắng dài ngày, việc nước ở nhà trông cậy vào cụ và anh em, chỉ xin cụ nhớ cho một câu để vận dụng, đó là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Có nghĩa là lấy cái không thay đổi để đối phó với muôn sự thay đổi. Cụ Huỳnh vốn là 1 nhà nho đã nhanh chóng lĩnh hội, chỉ lấy cái bất biến là quyết tâm độc lập, chèo chống đất nước trong suốt gần 5 tháng cụ Hồ vắng mặt.
Nên tôi nghĩ bây giờ “dĩ bất biến” vẫn sẽ là một phương châm hữu hiệu để chúng ta “ứng” với thế giới VUCA “vạn biến”, đầy thay đổi mà chúng ta không thể nào lên kế hoạch trước được.
Vậy thì cái gì sẽ là bất biến? Theo tôi, đó là 2 thứ.
1/ Sức khỏe và bản lĩnh.
Cả hai điều này đều nằm trong tầm tay các em. Nếu không có điều kiện chơi thể thao, tập võ thuật, các em đơn giản có thể chống đẩy, hoặc đi bộ. Miễn là đều đặn. Bản lĩnh thì chỉ có thể trui rèn qua “thực chiến”. Đại loại nếu tập gim chỉ để selfy “6 múi” thì không cần. Sức khỏe phải được thể hiện qua khả năng chịu đựng vất vả, làm việc liên tục, trong các điều kiện môi trường khác nhau. Nhiều khi chỉ là thấy một con ngõ hẻm dám rẽ vào. Thấy một cuốn sách mới dám mở ra. Gặp được thầy mới, dám đặt câu hỏi. Đã là bản lĩnh.
2/ Khả năng tự học. Là gì? Là gặp một vấn đề mới, biết tìm được tài liệu từ kho tàng khổng lồ trên Internet. Ngâm cứu không hiểu, biết đặt câu hỏi cho đúng. Có câu hỏi đúng biết tìm đúng người để hỏi. Hiểu được rồi, biết tìm chỗ để thi thố. Lẽ dĩ nhiên, tự học cũng phải học, mà ít nơi dạy. Nên thầy đã mở ra trường FUNiX để “buộc” sinh viên phải tự học.
Nếu được bonus thêm một điều nữa, thầy sẽ khuyên các em học Toán. Tức là học cách suy nghĩ logic của môn Toán. Nắm được mấy điều đó, VUCA chỉ là cái đinh. Chúc các em may mắn
Thôi mình về đi
—
Các em yêu quí. Quân đội Pháp là một đội quân hùng mạnh trên thế giới. Chỉ có vài trăm quân Pháp cũng dễ dàng chiếm được thành Hà Nội với hàng ngàn quân phòng thủ, trong vòng 1 ngày, khiến Tổng đốc Hoàng Diệu phải tự vẫn.
Thế nên HCM đã phải ra sức đàm phán kéo dài thời gian để củng cố lực lượng. Duiker đặt câu hỏi: Liệu HCM có thực sự muốn tránh chiến tranh hay chỉ “động tác giả” để có thêm thời gian chuẩn bị chiến tranh? Thực ra cũng không cần trả lời. Là đệ tử của Tôn Tử, HCM tin rằng chiến thắng đẹp nhất là chiến thắng không cần vũ lực. Để đạt được nó, ngoại giao và tuyên truyền là các vũ khí sắc bén làm chia rẽ và giảm năng lực chiến đấu của đối thủ. Nhưng đến ngày 19/12, Ông và các đồng chí của mình hiểu rằng, không thể thoả hiệp được nữa. Vấn đề phải được quyết định trên chiến trường.
Thưa thầy, vậy là HCM đã chấp nhận bước vào một cuộc chiến VUCA đầy trắc trở với một đội quân hiện đại của một đế quốc hùng mạnh. Liêu ông và các đồng đội sẽ có chiêu gì để hóa giải sức mạnh của người Pháp?
Sáng ngày 19, Pháp yêu cầu Việt Nam ngưng tất cả các hoạt động chuẩn bị chiến tranh, giải tán các đơn vị dân quân và chuyển giao toàn bộ việc bảo đảm an ninh cho Pháp. Buổi tối 19/12. Sainteny đang chuẩn bị rời nhiệm sở về nhà riêng. Cũng như mọi người Sainteny biết rằng cuộc chiến đã có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Khi đồng hồ tại bệnh viện Yersin điểm 8h, Sainteny nói với đồng nghiệp “Thế là không phải hôm nay rồi, tôi đi về nhà đây”. Đúng lúc Sainteny đang chuẩn bị bước vào xe, một tiếng nổ lớn phát ra. Điện tắt phụt, toàn thành phố chìm vào bóng tối. Sainteny chạy vội về nhà, lên chiếc xe bọc thép giành riêng cho mình, chạy thẳng vào thành. Được một đoạn, chiếc xe trúng mìn. Sainteny bị thương nặng nằm trong vũng máu trong gần 2 giờ đồng hồ giữa các đồng đội quằn quại hấp hối.
20h ngày 19/12/1946, HCM đọc “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm”
Lời kêu gọi 200 từ này ngắn gọn, lời văn hùng hồn lay động lòng người, nội dung cực kỳ rõ ràng, chính thức phát động một cuộc “Chiến tranh Nhân dân” lấy cái “bất biến” là nhân dân để ứng phó với “vạn biến” là quân đội Pháp trang bị đầy đủ.
Chiến tranh nhân dân từ đó là một thuật ngữ thể hiện chiến lược quân sự của Việt Nam trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Thuật ngữ này được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hình thành hệ thống lý luận qua 2 cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chống Pháp và lần thứ hai chống Mỹ, sau đó được dùng để đánh giá các cuộc chiến tranh trước đó dưới chế độ phong kiến.
Trên bình diện thế giới, thuật ngữ này được các nhà nghiên cứu dành cho chiến lược của Mao Trạch Đông, áp dụng cho Bát Lộ Quân trong cuộc kháng chiến chống Nhật và sau này là nội chiến chống Tưởng.
Tuy cùng một tên gọi và có những cách áp dụng khá giống nhau: như chiến tranh kéo dài 3 giai đoạn, lấy nông thôn bao vây thành thị, nhưng sự khác biệt mấu chốt của chiến lược chiến tranh nhân dân của Việt Nam là biến nhân dân thực sự trở thành chủ thể chiến đấu của chiến tranh chứ không phải chỉ là lực lượng ủng hộ.
Tư tưởng này được Hồ Chí Minh lần đầu tiên nêu ra tháng 6/1940, khi ông thúc giục các đồng chí của mình đang ở Trung Quốc trở về Việt Nam. Các đồng chí băn khoăn là lực lượng còn quá yếu và trở về thì lấy đâu vũ khí. HCM đã trả lời: “Đây là vấn đề quan trọng nhất của cách mạng. Chúng ta phải trở về để tuyên truyền và động viên nhân dân. Khi nhân dân đứng lên, họ sẽ tự tìm vũ khí.”
Năm 1944, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22/12/1944, HCM cũng đã viết:
“Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.”
Hệ thống lý luận CTND được tập thể lãnh đạo chính phủ VNDCCH từng bước hình thành và triển khai qua cuộc chiến tranh chống Pháp dành độc lập và sau đó là chống Mỹ can thiệp để thống nhất đất nước.
Người đại diện thấu hiểu và thực thi sáng tạo tư tưởng này của HCM chính là Võ Nguyên Giáp và các đồng chí của mình trong quân đội. Sau này, trả lời phỏng vấn một nhà báo Mỹ, Võ Nguyên Giáp đã giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông:
“Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố – con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!”
Võ Nguyên Giáp là ai?
Ông sinh năm 1910 tại Quảng bình cũng trong một gia đình quan lại. Tuy nhiên cha Giáp tham gia kháng chiến từ những năm 1880s. Năm 1924, Giáp vào Quốc học Huế. Tính dữ dội và mãnh liệt, sau vụ đám tang Phan Chu Trinh, Giáp bị cuốn vào các hoạt động cách mạng và bị đuổi khỏi trường năm 1927. Giáp gia nhập Tân Việt nhưng sau đó nhanh chóng chuyển sang ĐCSĐD. Bị bắt tại Huế vì tham gia các hoạt động ủng hộ Xô viết nghệ tĩnh, năm 1933 Giáp được tha và tiếp tục đI học. Sau khi lấy bằng Luật tại đại học Hà nội, Giáp dạy sử tại trường Thăng Long. Tại đây, ông đã gặp và cưới Nguyễn Thị Minh Thái, em gái của Nguyễn Thị Minh Khai và có một con gái.
Trong cuốn “Võ Nguyên Giáp và Chiến tranh nhân dân”, tác giả Gerald Le Quang đã trích một giáo viên của Giáp có tên là Nelly Boreau. miêu tả về ông như sau:
“Cứ theo những gì có thể đánh giá, người ta đặc biệt chú ý đến sự chín chắn và nhân cách của chàng trai trẻ này. Anh có trí tuệ hơn người, trong sáng, linh lợi, ham hiểu biết, có đầu óc tổng hợp, hiểu nhanh, tỏ rõ có trình độ học vấn cao. Anh còn là người có tính cẩn thận, rất đúng giờ, làm việc có tính tổ chức cao. Anh tôn trọng những lề thói, đối xử đúng mực như một đức tính bẩm sinh. Anh có tầm hiểu biết sâu rộng, biết khái quát, làm chủ vấn đề, hướng về tương lai.
Khi thảo luận, những nhận định của anh nói chung thường thẳng thắn và công bằng, nhưng đôi khi có thể bị tình cảm chi phối nên có nguy cơ trở thành chủ quan. Anh có đầu óc nhạy cảm nhưng do tính tình ôn hòa, có kỷ luật nên anh làm chủ một cách thận trọng những biểu hiện cảm xúc của mình. Anh có thể đam mê một ý tưởng hay một lý tưởng nào đó và sẽ cố thực hiện. Trong khi anh sẵn lòng toàn tâm hiến thân cho lý tưởng nào đó thì anh vẫn là con người có đầu óc thực tế một cách sâu sắc.
Anh có một sức khỏe rất tốt, nhanh nhẹn, dũng cảm, ưa hoạt động, thích giao tiếp với người khác. Anh là người có tài ngoại giao, thận trọng trong mọi suy nghĩ và hành động. Anh luôn cương quyết hướng về một mục đích. Anh có tinh thần bền bỉ đến mức bướng bỉnh, cương nghị, kiên trì theo đuổi những ý tưởng của mình. Cuối cùng anh là con người có nhiều mong muốn, nhưng biết tự đánh giá và biết rõ khả năng của mình. Với những đức tính như thế, chắc chắn anh có sức cảm hóa mạnh mẽ đối với người khác và hình như anh có cái chất của người chỉ huy, biết gắn suy nghĩ với hành động thực tế.”
Giáp thường viết bài cho báo đảng Notre Voix và hợp tác với Trường Chinh trong việc xuất bản các cuốn sách mỏng về tình hình nông thôn. Lúc rảnh rỗi, Giáp thích được đọc về lịch sử quân sự trong thư viện thành phố Hà nội.
Sau khi Nguyễn Ái Quốc quay về Côn Minh tháng 5/1939, Trung ương đã cử hai đồng chí trẻ để tham gia huấn luyện: đó là Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Người giới thiệu Giáp đi Côn Minh là Hoàng Văn Thụ, một người dân tộc Thổ, uỷ viên TƯ từ năm 1938 và là bí thư chi bộ Bắc Bộ. Thụ cũng hay nói chuyện với Giáp về các vấn đề quân sự. Một sáng tháng Năm, sau khi tan lớp, Giáp chia tay với người vợ trẻ và đứa con thơ tại Hồ Tây mà không biết đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng của họ. Giáp nhập nhóm với Đồng và theo tàu lên Lào cai vượt biên giới đi Côn Minh.
—
Từ giữa 1944, các nhóm cách mạng nhỏ bị Pháp truy quét lại có cơ hội tập hợp lực lượng lại, tình hình kinh tế tiếp tục bi đát dẫn đến sự bất bình của dân chúng ở thành thị và nông thôn tạo thành môi trường lý tưởng để nuôi dưỡng những hạt nhân cách mạng. Trong hội nghị tháng 7/1944 có đại diện của ĐCSVN tại 3 tỉnh biên giới, Giáp đã đề nghị phát động chiến tranh du kích để thành lập khu giải phóng và xây dựng quân đội chính quy.
Trong chuyến đi cùng Vũ Anh đón HCM mới ra khỏi nhà tù của Tưởng về Pác Bó, Giáp đã trình bày về kế hoạch của mình cũng như những nghị quyết của hội nghị tháng 7. HCM đã không đồng ý với Giáp và chỉ rõ: “quyết định mở cuộc tấn công ở Việt Bắc là chỉ dựa vào tình hình địa phương và chưa đánh giá tình hình cả nước. Do chưa có nơi nào có phong trào mạnh, nên sẽ không thể cùng đứng lên ủng hộ. Pháp sẽ dễ dàng có điều kiện tập trung lực lượng và đàn áp. Giai đoạn cách mạng hòa bình đã qua, nhưng thời khắc tổng tiến công vẫn chưa tới. Trước mắt các hoạt động tuyên truyền chính trị vẫn phải được ưu tiên”.
Để bù lại cho nỗi thất vọng của người đồng chí trẻ, HCM đề nghị Giáp bắt tay vào xây dựng những đơn vị đầu tiên của quân đội và đặt tên là đội “Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân”. Ông còn căn dặn tiêu chí đầu tiên của đội là “bí mật, luôn luôn bí mật. Địch nghĩ ta ở tây thì ta đang ở đông. Đánh bất ngờ, rút ngay khi địch chưa kịp trở tay”. Ngày 22/12, Giáp đã tập hợp 34 thành viên trong một khu rừng Việt bắc, khởi đầu cho một đội quân huyền thoại.
—
Giờ thì đội quân đó phải đối mặt với nhiệm vụ thách thức đầu tiên: Giữ chân quân Pháp tại Hà Nội 1 tháng để HCM và chính phủ có đủ thời gian sơ tấn lên Việt Bắc.
Cuộc chiến với Pháp từ ngày 19/12/1946 là cuộc chiến chưa có tiền lệ trong lịch sử chống chiến tranh xâm lược. Ngoại trừ việc kẻ thù rất hùng mạnh, cuộc chiến lần này bắt đầu từ các thành phố lớn. VNG đã viết trong cuốn “Chiến đấu trong vòng vây” thế này:
Lịch sử chiến tranh giữ nước của ta kể từ sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng những năm 40 đầu Công nguyên, chưa hề có một cuộc chiến đấu chống ngoại xâm nào khởi đầu cùng một lúc từ kinh đô và các thành thị. Những cuộc chặn đánh ngoại xâm cũng hiếm diễn ra ở Thăng Long. Nửa thế kỉ trước, năm 1873 và năm 1882, thành phố Hà Nội và hơn nửa vạn quân đã nhanh chóng thất thủ, lần thứ nhất, trước hai trăm quân Pháp, lần thứ hai, trước năm trăm quân Pháp. Đây là điều làm cho tôi suy nghĩ nhiều trong những năm dạy sử ở trường Thăng Long.
Tương quan lực lượng lúc đó như sau: Tổng số quân viễn chính Pháp ở Đông Dương lúc này đã lên tới 90.000. Về phía VNDCCH, lực lượng bộ đội cả nước khoảng 82.000. Tuy không có chênh lệch lớn về số lượng, nhưng về trình độ tổ chức trang bị, kĩ thuật, thì đây là một khoảng cách có tính thời đại. Quân viễn chinh Pháp là một quân đội nhà nghề, với những đơn vị bộ binh, thiết giáp, pháo binh, không quân, hải quân vừa chiến thắng trong chiến tranh thế giới thứ hai. Họ có những trang bị hiện đại nhất của phương Tây. Chỉ riêng sự xuất hiện khẩu tiểu liên Thompson cũng đủ làm nản lòng những đơn vị bạch binh kiêu dũng của Nhật hoàng năm trước trên quần đảo Xalômông. Còn quân đội ta, đơn thuần là bộ binh, hầu hết là người dân mới khoác áo lính, trang bị yếu kém. Mỗi đơn vị, nhiếu nhất là một phần ba chiến sĩ có súng, toàn là súng cũ đủ loại với rất ít đạn. Mỗi trung đoàn có từ ba đến bốn khẩu trung liên hoặc tiểu liên, vài ba khẩu súng cối. Vì phải bắt tay ngay vào làm nhiệm vụ tiếp phòng với quân Pháp, nên các chiến sĩ ít được huấn luyện về kĩ thuật, số đông chưa qua bắn đạn thật.”
Nên Bộ Tổng chỉ huy đã đề ra phương châm: “Trường học tốt nhất là chiến trường. Cần phải học tập ngay trong thực tiễn chiến đấu. Kẻ thù chính là người giúp chúng ta nhanh chóng rút ngắn thời gian bỡ ngỡ này.” Đây chính là cách vừa học vừa đánh, đánh để học, để trưởng thành, đánh để lấy vũ khí địch
Theo đúng tinh thần đó, trung đoàn Thủ đô đã cầm chân với quân đội Pháp với đầy đủ vũ khí hiện đại, gần 2 tháng tại thủ đô Hà Nội, trước khi được lệnh theo rút ra dưới chân cầu Long Biên. Đây đúng là một Trung đoàn của Nhân dân. VNG đã miêu tả lại cuộc gặp gỡ khi trung đoàn đã rút ra khỏi Hà Nội sau khi hoàn thành nhiệm vụ:
“Chưa bao giờ tôi gặp một đoàn quân nhiều màu sắc phong phú đến như vậy. Đủ mọi lứa tuổi, từ em nhỏ nhi đồng đến những người tóc đã hoa râm. Khá đông các chị. Quần áo đủ kiểu. Hàng quân danh dự hiên ngang với đồng phục kaki, mũ calô gắn phù hiệu nền đỏ sao vàng, khăn quàng đỏ quyết tử quân và súng tiểu liên. Số đông bộ đội mặc quần áo dân thường. Những bộ quần áo xanh công nhân, áo vét tông, áo bludông, mũ cát, mũ phớt, màu đen, màu nâu. Lác đác màu áo lá cây của chiến sĩ vệ quốc đoàn. Những bộ mặt được khói lửa chiến trường tôi rắn lại vẫn chưa mất đi nhưng nét tài hoa, son trẻ của lớp thanh niên, học sinh Thủ đô. Chỉ giống nhau là mọi người đều mang vũ khí, thắt túi đạn hoặc lựu đạn ngang lưng. Một nửa trong số họ sử dụng mác búp đa làm vũ khí.”
Bởi thế quân đội nhân dân Việt Nam khi đó còn được gọi là Quân đội Búp đa và có thơ rằng
“Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.”
Tác phẩm nghiên cứu có xu hướng hệ thống hóa nhất về đề tài này mà thầy biết là cuốn “Võ Nguyên Giáp và chiến tranh nhân dân” của Gerald Le Quang viết năm 1973. Trong tác phẩm này tác giả: Gerald Le Quang đã tổng hợp lại những nguyên tắc của Chiến tranh Nhân dân như sau:
“Quân với dân như cá với nước” là phương châm đã được các nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam như Trường Chinh, sau đó là Phùng Chí Kiên và Võ Nguyên Giáp quán triệt. Chỉ thị thành lập đội VNTTGPQ đã nói rõ rằng, xung quanh đội sẽ có các đơn vị vũ trang địa phương, dân quân tự vệ.
Cơ cấu của QĐNDVN cũng như Quân giải phóng Miền Nam trong cuộc chiến tranh sau này, cũng được tổ chức đúng như vậy. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ ở các làng xã thị trấn.
VNG khẳng định hệ thống ba thứ quân này hoạt động hiệu quả trong chiến tranh phòng thủ cũng như bảo đảm an ninh quốc gia và sản xuất.
Dân quân, về bản chất vẫn là nhân dân, sống và làm việc tại gia đình, được trang bị vũ khí sơ sài. Là chỗ dựa của chiến tranh du kích. Du kích (hay tự vệ ở thành phố) là những dân quân ưu tú, có trang bị tốt hơn. Dân quân du kích bảo đảm an toàn cho các cán bộ chính trị hoạt động tại địa bàn. Khi có chiến dịch, họ thuộc quyền điều động cuả bộ đội chủ lực tác chiến tại địa bàn.
Bộ đội địa phương là “hạt nhân” của cuộc chiến. Thường được tổ chức ở cấp đại đội thuộc huyện, tiểu đoàn thuộc tỉnh. Các đơn vị này phải có mặt khắp nơi, ngay cả trong vùng địch kiểm soát. Họ được dân nuôi và nhiệm vụ của họ là cản phá các cuộc tấn công của địch, chuẩn bị chiến trường cho chủ lực, và là niềm tin và chỗ dựa, huấn luyện cho lực lượng dân quân du kích. Bộ đội địa phương được tuyển từ lực lượng dân quân du kích, hay các đơn vị chủ lực bị hao hụt quân số mất tính chiến đấu. Bộ đội địa phương thường do cán bộ cử từ chủ lực về chỉ huy. Trong khi dân quân du kích và bộ đội địa phương hoạt động theo nguyên tắc vết dầu loang, thì bộ đội chủ lực hoạt động theo khuôn khổ vận động chiến và thực tế không có ngăn cách rõ ràng giữa hoạt động của ba thứ quân. Khi quân chủ lực hành quân đến địa phương nào, họ phải liên hệ chặt chẽ với địa phương, điều phối tác chiến và hậu cần từ địa phương. Trong các chiến dịch, chiến tranh nhân dân biến “hậu phương của địch thành hậu phương của ta.” Hậu cần và vũ khí không theo sau mà đi trước bộ đội chủ lực. Vai trò của du kích chiến trong khuôn khổ vận động chiến là xây dựng một mạng lưới hậu cần rộng rãi, phủ kín “khắp chiến trường”. Lê Quang cũng đã kết luận về VNG như sau: “VNG có lẽ là vị tướng duy nhất trên thế giới thực hiện việc tổng kết lịch sử, nghệ thuật chiến tranh và chính trị ở trình độ cao và chuyển việc tổng kết đó vào thực tiễn chiến đấu hàng ngày.”
Nôm na là Sáng đánh nhau, Chiều đọc binh thư, Tối lên kế hoạch. Sáng mai lại đánh nhau tiếp. Cứ thế cứ thế. Giờ gọi là Lean Startup các em ạ!
Nhờ “bất biến” Nhân dân, từ năm 1946-1949, VNDCCH, một nước chưa được ai công nhận, có quân đội mới chỉ thành lập chưa đầy 2 năm, vũ khí trang bị chủ yếu là “mác búp đa”, đãcó thể cầm cự và tiêu hao một lực lượng lớn sinh lực của đội quân nhà nghề châu Âu, đảo ngược được thế trận. Tháng 12 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Orion hỏi tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Cácpăngchiê về những khả năng chiến lược ở Đông Dương. Tướng Cácpăngchiê đáp: “Không còn có khả năng chiến thắng quân sự. Chỉ còn một giải pháp chính trị”.
Sau này, những nhà sử học Pháp cũng gần như thống nhất với nhận định: vào đầu năm 1950, “nước Pháp đã thất bại trong ý đồ tái chinh phục Việt Nam bằng quân sự” và “đã sa lầy trong một cuộc chiến tranh không có kết thúc và không thể chiến thắng”.