Gió heo may, trời trở lạnh. Chưa đủ để ngăn người ta ra khỏi nhà. Những cũng đủ để ít người muốn lang thang ngoài công viên đường phố. Hôm nay Thanh không muốn giao lưu. Em muốn ngồi một mình.
Trường Thanh xây dựng theo mô hình các trường châu Âu nên quanh trường có rất nhiều các quán bar, pubs… với mục đích giao lưu kết nối cho sinh viên và giảng viên. Nhưng Hà Nội vốn nổi tiếng với những quán café nhỏ xinh xinh, nên cũng không khó để em tìm một chỗ và thu lu với cuốn “Gió bụi đầy trời”
Có quá nhiều những số phận, những sự kiện mà em chưa biết.
Em băn khoăn nghĩ đến việc tại sao Phạm Quỳnh phải chết? Người đã viết những câu như “tiếng Việt còn, nước ta còn” chắc chắn là một người yêu nước. Nhưng chết vì thân Pháp. Tại sao yêu nước lại không được thân Pháp? Chẳng phải Phan Chu Trinh cũng thân pháp sao. Và còn kỳ lạ hơn nữa mặc dù bị Việt Minh giết, nhưng các con ông lại theo Việt Minh. Phạm Khuê là một bác sĩ nổi tiếng và là một quan chức trong chế độ VNDCCH. Phạm Tuyên thì quá gần gũi với các thiếu nhi. Em rất thích bài hát “Chiếc đèn ông sao” của bác ấy. Quá trong sáng, không hề hận thù. Lại vẫn còn nhắc tên HCM
“Tùng rinh rinh tùng tùng rinh rinh
Đây ánh sao vui chiếu xa sáng ngời
Tùng rinh rinh tùng tùng rinh rinh
Ánh sao Bác Hồ tỏa sáng nơi nơi!”
Trong sách còn nhắc đến một nhân vật cùng chết với Phạm Quỳnh là Ngô Đình Khôi. Em chưa nghe thấy ông này bao giờ, nhưng em đã nghe tên em ông ấy là Ngô Đình Diệm. Diệm cũng là một người yêu nước, và chống Pháp, nhưng ông đã từ chối hợp tác với Việt Minh. Thế mà không những đã sống sót mà sau này trở thành kẻ thù của HCM và các đồng chí của mình. Phải chăng Diệm được sống là nhờ đã trực tiếp gặp HCM. Chú em, một người rất am hiểu các góc khuất của lịch sử đã khẳng định, chính Bảo Đại đã chọn Diệm làm thủ tướng cho Đế quốc Việt Nam. Và Nhật đã từ chối và phê duyệt một nhân vật “dễ bảo” hơn là Trần Trọng Kim.
Chào em. Nhà “sử học trẻ” hôm nay làm gì mà trầm ngâm thế? Vow đã đọc sách rồi cơ à.
Vâng em thấy cảm khái quá. Những vĩ nhân vụt qua như hạt cát trong gió bụi của cuộc đời – Thanh chia sẻ với thầy Thành.
Thầy thông cảm với em. Dù sao bọn em cũng may mắn hơn thế hệ thầy, được tiếp cận với rất nhiều nguồn thông tin, được công khai bày tỏ những nghi ngờ, trăn trở của mình. Không như thầy, phải đến năm 41 tuổi, khi gặp quá nhiều khó khăn trong công cuộc tìm khách hàng công nghệ ở Mỹ, thấy mới chợt hiểu ra điểm mạnh của mình chính nằm trong những “cú xoáy” của lịch sử dân tộc. Có thể coi là một loại sử thực chiến. Nên thầy cố gắng quan tâm đến những bài học gì chúng ta rút ra được từ lịch sử mà có thể áp dụng vào thời đại hiện nay. Mà không có thời gian đi sâu vào tình tiết.
Ví dụ thế này đi. Trong công việc khó khăn, bọn thầy rất hay gặp những ý kiến lo xa “bàn lùi”. Kiểu nếu mình vớ được hợp đồng lớn thế này, thì liệu có làm được không? Mở một văn phòng ở Tokyo, Dubai, rồi sẽ làm gì? Mỗi lần như vậy, thầy đều nhớ đến HCM khi trả lời nhà báo Mỹ Harold R Isaccs: “Độc lập là một sự kiện. Cái gì phải đến sau đó sẽ đến. Nhưng độc lập phải có trước, không phụ thuộc sau đó sẽ là cái gì”. Có giữ được độc lập hay không là một chuyện khác dù HCM “đang đơn độc, và phải phụ thuộc vào chính mình”. Bọn thầy còn gọi đùa đó là chiến thuật “Dò đá qua sông.” Đi bước này đã rồi sẽ mở ra bước tiếpThôi, về đi, mai chúng ta gặp nhau. Sẽ bàn kỹ hơn. Trời đang đẹp, đã có bạn trai nào rủ đi ăn kem chưa?
Vâng em cám ơn thầy. Có mấy bạn đang “xếp hàng” đấy ạ. Mà em ngại quá.
Thanh xuân là tuổi của tình yêu, lịch sử có thể đợi được, còn thanh xuân sẽ qua nhanh đấy em nhé.
Vâng, thầy đã nói thế thì cho cho em hỏi, sao trên lớp không thấy thầy nhắc đến “thanh xuân” của HCM ạ?
Úi trời, mấy chuyện này thì hót hòn họt. Em lên mạng đầy thông tin. Còn ở đây thì thầy như đã nói rồi đó, thầy chỉ đang cùng bọn em cố gắng “mining” lịch sử để tìm ra những bài học hữu ích cho riêng mình. Tất nhiên, cũng như bất cứ thanh niên nào khác, HCM cũng có những chuyện “thanh xuân” của mình chứ. Các em có thể tìm thấy trong Duiker thông tin những “người tình” của HCM đấy.
Nhưng nói về chuyện yêu đương, HCM sống lại thời bây giờ khéo phải học bọn em. Thực tế thì Duiker cũng đã viết: “Cuộc đời Nguyễn Ái Quốc đã cho thấy ông ưa chuộng những mối quan hệ tạm thời, ngẫu hứng và không để chúng ảnh hưởng đến các mục đích chính trị của mình.”
HCM tự đặt ra cho mình một sứ mệnh lớn lao không cho phép ông có thời gian hưởng thụ “thanh xuân” như chúng ta. Sau này chính ông cũng đã nói: “Đừng học Bác khoản này.”
—
Các em yêu quí.
Như vậy, ngày 2/9/1945, việc liên danh với người Mỹ đã giúp Việt Minh dành được chính quyền. Đoàn xe của Mỹ chở HCM đến quảng trường Ba Đình trong tiếng gầm rú của phi đội máy bay P-38 của “người bạn chân thành” Clair Chennault mà chúng ta đã nhắc đến trong chương 9.
Khoảng 2h chiều ngày 2/9/1945, trên một lễ đài dựng tạm tại một quảng trường mà sau này được gọi là Ba Đình, trong bộ quần áo kaki bạc màu, với chất giọng còn đậm nguồn gốc xứ Nghệ, HCM đọc bản Tuyên ngôn khai sinh cho một dân tộc độc lập. Những lời đầu tiên của bản Tuyên ngôn đã làm sửng sốt một số người Mỹ có mặt trong đám đông:
“Tất cả sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá đã cho họ những quyền không thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền Sống, Tự do và Mưu cầu Hạnh phúc”. Câu nói bất hủ đó trích trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776. Nói rộng ra điều đó có nghĩa là tất cả các dân tộc trên trái đất bình đẳng từ lúc ra đời. Tất cả các dân tộc đều có quyền sống và được hưởng tự do và hạnh phúc.”
Đáng tiếc là những người bạn Mỹ sau đó đã bỏ rơi ông.
Sao lại có thể như thế được hả thầy? Chẳng phải tổng thống Roosevelt là người lớn tiếng đòi phục hồi độc lập cho các dân tộc bị áp bức ở châu Á. Thiếu tá Patti và tất cả những đồng đội của ông ở OSS đều có cảm tình với Việt Minh?
Thế giới phức tạp. Việt Nam là một nước nhỏ và yếu. Chúng ta phải trông chờ vào sự xoay vần của thời cuộc. Tháng 4/1945, Truman lên thay Roo chết vì bệnh. Ông này đã lờ đi không nhắc đến vấn đề độc lập ở Đông Dương nữa. Vào cuối tháng 8, khi Việt Minh đang bận củng cố quyền lực, Truman đã gặp De Gaul ở Nhà Trắng. Mấy ngày sau, Mỹ tuyên bố không phản đối việc Pháp trở lại Đông Dương.
Ngày 25 tháng 9, De Gaul điện cho Leclerc đại diện của quân Pháp ở Đông Dương “Việc của ngài là khôi phục lại sự cai trị của Pháp và tôi rất lấy làm tiếc là ngài vẫn chưa làm điều đó”.
Tất nhiên là HCM và các đồng chí có thể đã tính trước điều đó.
Trong hội nghị TƯ vào giữa tháng 8, Hồ đã tập trung phân tích những vấn đề phức tạp liên quan đến quân Đồng Minh, khai thác sự mâu thuẫn giữa chúng để bảo vệ độc lập. Hồ cho rằng 2 đối tượng nguy hiểm nhất là Pháp và Tưởng. Pháp chắc chắn muốn chiếm lại Việt Nam. Tưởng cũng vậy, nếu không được thì cũng sẽ cố gắng dựng lên một chính phủ thân Tưởng ở Hà Nội. Ông dự đoán, một là Mỹ và Tưởng có thể ở một bên, còn Anh ủng hộ Pháp để chiếm lại VN, chính phủ mới có thể lợi dụng sự mâu thuẫn này. Hai là, các nước Đồng Minh thống nhất chĩa mũi dùi sang Liên xô, khi đó Mỹ, Anh sẽ đều quay sang ủng hộ Pháp vào Việt Nam và nhận định: trong mọi điều kiện Việt Nam phải cố gắng tránh đối đầu một mình.
Vào cuối năm 1945, mặc dù đã đứng vững ở Hà Nội và các vùng lân cận, tình hình vẫn diễn biến khá tệ cho Việt Minh. Pháp đã chiếm lại Sài gòn và các đô thị ở Nam bộ và đang tiến ra miền Trung. Việt Minh bị đẩy vào rừng. Tại miền Bắc 30 ngàn quân Tưởng ăn chơi đập phá, bảo kê cho các lực lượng Việt Nam thân tưởng ra yêu sách với chính phủ của HCM.
HCM đã tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945 nhưng chưa một nước nào trên thế giới công nhận Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là một chính phủ thiếu tính chính danh, chẳng mấy chốc sẽ bị coi là “bọn phản nghịch”.
HCM phải phá vỡ thế bế tắc đó.
Trước tiên ông phải lấy được tính chính danh trong nhân dân. Một nhà nước chính danh, phải có quốc hội do dân bầu ra. Và quốc hội đó phải thông qua bộ Luật cơ bản – Hiến pháp.
Ngày 8/9, Chính phủ quyết định tổ chức Tổng tuyển cử trong 2 tháng tới để bầu ra quốc hội lập pháp có khả năng thông qua hiến pháp mới. Ngày 13/10 HCM ban bố sắc lệnh về việc thành lập các hội đồng nhân dân tại địa phương thông qua bầu cử. Các chính sách kinh tế của chính phủ chủ yếu là miễn giảm thuế, nâng cao điều kiện lao động và cấp đất cho người nghèo. Không có quốc hữu hoá hoặc cải cách ruộng đất. Chỉ có đất của người Pháp và những kẻ cộng tác mới bị tịch thu. Chính sách này phù hơp với các tuyên bố của Hồ trước đó về cách mạng 2 giai đoạn, khi giành được chính quyền, ưu tiên đầu tiên của ông là thành lập chính phủ có khả năng đoàn kết rộng rãi các tầng lớp dân chúng, tập hợp được sức mạnh để đối phó với đe doạ ngoại xâm.
Ngày 20/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34-SL thành lập Ủy ban Dự thảo Hiến pháp, gồm 7 thành viên: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại), Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh).
Giáo sư Đặng Thai Mai kể lại: “Vũ Trọng Khánh chịu trách nhiệm viết các phần quan trọng nhất, chiếm khoảng ba phần tư dự án. Tôi chỉ viết một phần tư còn lại. Sau đó, anh Khánh duyệt phần do tôi viết, rồi viết lại toàn bộ văn bản trước khi chuyển tới Võ Nguyên Giáp”. Trong quá trình dự thảo, hai ông tranh thủ ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hai cụ Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại. Nhiều trí thức nổi tiếng thời đó như Luật sư Phan Anh, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn cho mượn cả những văn kiện tiếng Pháp (như Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Hiến pháp Hoa Kỳ, Hiến pháp Pháp, …) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải tìm để tham khảo. Ngày 8/11/1945, Ủy ban Dự thảo họp phiên cuối cùng do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trưởng ban chủ trì. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh đọc toàn văn bản dự thảo. Tất cả 7 thành viên biểu quyết tán thành. Hồ Chí Minh kết luận: “Đây là một bản dự thảo đặc sắc, ông Vũ Trọng Khánh có công đầu” và yêu cầu cho công bố ngay để lấy ý kiến cả nước.
Việc đàm phán với phe đối lập để tổ chức bầu cử quốc hội để thông qua hiến pháp khó khăn hơn nhiều. Đầu tiên, phe đối lập đòi chức Chủ tịch và 6 ghế bộ trưởng. Hồ thì đề nghị thành lập Hội đồng Cố vấn chính trị do Nguyễn Hải Thần làm Chủ tịch và 3 ghế bộ trưởng.
Một vấn đề nữa là ngày bầu cử. Phe đối lập cho là ngày 23/12 là quá gấp để họ chuẩn bị. Trương Phát Khuê can thiệp, ngày 19/12 hai bên nhất trí dời ngày tổng tuyển cử 15 ngày. Không phụ thuộc vào kết quả bầu cử, Việt quốc sẽ có 50 ghế và Đồng Minh Hội có 20 ghế trong quốc hội tương lai. Hồ Chí Minh sẽ làm Chủ tịch, Hải Thần Phó chủ tịch, Việt Minh, Việt quốc, Đồng Minh Hội và Đảng Dân chủ mỗi đảng có 2 ghế bộ trưởng và hai ghế nữa sẽ giành cho các phần tử không đảng phái.
Quyết định này bị phản ứng quyết liệt trong Đảng CS. Một đồng chí đã hỏi “Hải Thần có phải là cục phân bẩn thỉu?”. Hồ trả lời “Nhưng nếu dùng để bón lúa được thì tại sao lại không dùng?” Khi một số cho rằng Việt Minh và phe đối lập như lửa với nước, cớ sao lại nhượng bộ 70 ghế, Hồ châm biếm: “Nếu lấy lửa để đun sôi nước, thì lại có thể uống được đấy”.
Ngày 6/1 cuộc tổng tuyển cử đầu tiên được tiến hành trên toàn quốc và các vùng do Việt Minh kiểm soát ở Nam Bộ. Theo đánh giá của Việt Minh, cuộc bầu cử đã diễn ra không bạo lực và có tỷ lệ người đi bầu đến 90%. Việt Minh nhận được 97% số phiếu và lẽ ra sẽ có 300 ghế quốc hội, nhưng 70 ghế phải nhường cho phe đối lập. Hồ Chí Minh từ chối đề nghị của các đồng chí mình là ứng cử đại diện cho cả nước, chỉ ra ứng cử tại Hà Nội và được 98.4% phiếu bầu.
Ngày 2/3, Quốc hội họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn. Cả toà nhà tràn ngập cờ đỏ sao vàng. Hơn 300 đại biểu, khách mời và phóng viên tham dự. Trong bộ quần áo kaki nổi tiếng, Hồ bước lên diễn đàn đề nghị quốc hội chấp nhận 70 đại biểu của Việt quốc và Đồng Minh Hội đang phải đợi ở phòng chờ. Sau khi được chấp nhận, Hồ tuyên bố khai mạc quốc hội đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam và đại diện cho chính phủ liên hiệp lâm thời xin từ chức. Quốc hội đã nhất trí bầu Hồ làm chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch mặc dù ông này cáo ốm không đến dự. HCM tuyên bố thành lập Uỷ ban dân tộc kháng chiến đấu tranh cho độc lập hoàn toàn của dân tộc và Hội đồng cố vấn quốc gia do Bảo Đại làm chủ tịch.
Quốc hội khóa cũng đã bầu ra Ban Dự thảo Hiến pháp (Tiểu ban Hiến pháp) chịu trách nghiên cứu dự thảo hiến pháp. Ban này gồm 11 thành viên: Tôn Quang Phiệt, Trần Duy Hưng, Nguyễn Thị Thục Viên, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ. Ban này tiếp tục nghiên cứu dự thảo hiến pháp đã được Vũ Trọng Khánh đưa ra trước đó.
Cùng ngày hạm đội Pháp chở đạo quân của tướng Leclerc rời Sài Gòn nhằm hướng Hải phòng thẳng tiến. Chính phủ non trẻ cùng một lúc phải đối phó với hai kẻ thù Pháp và Tưởng.
Mãi đến ngày 28/10, Quốc hội mới họp được phiên thứ hai. Rất nhiều sự kiện đã xảy ra trong những tháng giữa hai kỳ họp đó.
Có tổng cộng 291 đại biểu trong số 444 đại biểu được bầu tham dự. Trong số 70 đại biểu chỉ định chỉ có 37 người đến. Tình hình khá căng thẳng. Các đại biểu ngồi thành 3 khối: bên trái là các đại biểu ĐCSVN, đảng xã hội và đảng dân chủ đeo cà vạt đỏ. Trung tâm là các đại biểu Việt Minh không cộng sản, bên phải là các đại biểu Việt Quốc và Đồng minh Hội.
Quốc hội trình bày dự thảo Hiến pháp mới với nội dung rất tiến bộ và đáp ứng mong ước của đại đa số dân chúng. Chương về tổ chức chính trị nhấn mạnh bảo đảm các quyền tự do dân chủ và nhu cầu liên kết rộng rãi để chống lại việc khôi phục chế độ thực dân Pháp. Chương kinh tế bảo đảm quyền tư hữu và không đả động gì đến việc thành lập xã hội phi giai cấp. Người Pháp hẳn phải rất thất vọng khi bản Hiến pháp tuyên bố nền độc lập hoàn toàn cho Việt Nam mà chẳng thấy đả động gì đến liên bang Đông Dương hoặc khối Liên hiệp Pháp cả. Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết hiến pháp của dân. Quy định về việc sửa đổi Hiến pháp này không được kế thừa trong các bản hiến pháp sau này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 9/11/1946, Quốc hội đã phê duyệt Hiến pháp và uỷ quyền cho chính phủ quyết định ngày đưa vào hiệu lực.
Như vậy, chỉ sau hơn 1 năm, vượt qua rất nhiều thách thức về chính trị, ngoại giao và quân sự, HCM đã thông qua được Hiến pháp của nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa.
Một quốc gia muốn chính danh phải có Hiến pháp. Kiểu như công ty phải có điều lệ ấy bọn em. Và VN có thể đàng hoàng bước vào cuộc chiến tranh với Pháp như một quốc gia chứ không phải bọn “phản nghịch”.
Nhưng lấy được tính chính danh của VNDCCH với Pháp và dư luận quốc tế khó khăn hơn nhiều!
Ngày 23/9, Jean Sainteny, một quan chức thực dân đặc sệt trở lại Việt Nam với tư cách đại diện toàn quyền cho Pháp tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Sainteny gặp Hồ lần đầu tiên vào giữa tháng 10 cùng với bộ trưởng văn hoá Hoàng Minh Giám. Mặc dù là người đàm phán cứng rắn và yêu nước Pháp (sau này ông trở thành một đại gia trong giới ngân hàng thế giới), Sainteny rất kính trọng Hồ và tự đáy lòng, ông này cảm thấy Hồ thân Pháp. Nhiệm vụ của Saiteny là thuyết phục để Hồ đồng ý cho quân Pháp quay trở lại Bắc Bộ, đổi lấy việc Pháp sẽ thương lượng để đuổi quân chiếm đóng Tưởng đi.
Lúc đó, tướng Leclerc đang có 8000 quân ở Nam Bộ từ Sư đoàn số 2 đã nổi tiếng trong chiến dịch Normandy nhưng Sainteny biết rõ rằng Pháp không thể tấn công trực diện bằng vũ lực miền Bắc bởi ngoại trừ sự chống đối của Việt Minh, còn có hơn 30000 quân Tưởng đang thong thả “giải giáp” quân Nhật.
HCM đã nắm được lợi thế đó. Ông không đòi hỏi độc lập ngay lập tức. Ông đồng ý để Pháp trở lại miền Bắc, Việt Nam trở thành một nước thành viên trong khối liên hiệp Pháp, nhưng Pháp phải đồng ý trao trả độc lập trong vài năm tới. Nhuwg De Gaul không chịu chấp nhận chữ “Independence” trong văn bản cuối cùng. Leclerc, sau khi đi thăm tướng Mountbatten về, định hoà giải bằng cách đề nghị Paris có một thể chế phù hợp cho Đông Dương sau chiến tranh (ông này dùng chữ “Autonomie”), liền bị De Gaul chửi mắng thậm tệ “Nếu tôi mà nghe mấy thứ nhảm nhí này thì đế quốc Pháp đã tiêu vong lâu rồi.”
Vấn đề gây tranh cãi thứ hai là quy chế của Nam Bộ, Hồ muốn gộp chung cả vào đàm phán nhưng Saiteny cho rằng dân chúng ở thuộc địa cũ của Pháp này phải được tự do lựa chọn thể chế cho mình.
Duiker miêu tả: “Cả hai tranh cãi liên miên mấy tuần liền trong căn phòng mịt mù khói thuốc. Sainteny hút tẩu sang trọng, còn Hồ hút đủ thứ thuốc Tàu, Mỹ và Gaulois Pháp.”
Trong những tuần đầu 1946, dưới danh nghĩa của chính phủ liên hiệp mới, HCM nối lại các cuộc thương lượng với Saiteny. Cũng quãng thời gian đó, Kenneth Landon, chuyên gia về các vấn đề châu Á của vụ ĐNA Bộ ngoại giao Mỹ đến Hà Nội để tìm hiểu tình hình. Sainteny hứa với Landon rằng chính phủ Pháp sẽ tìm cách hoà giải với Việt Nam. Nhưng Hồ lại không lạc quan khi trao đổi riêng với Landon. Hồ nghi ngờ sự thành thật của chính phủ Pháp và khẳng định quyết tâm sắt đá của VN giành lại độc lập. Hồ nhờ Landon chuyển bức thư cho tổng thống Truman kêu gọi Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, trong bối cảnh Mỹ đang chuẩn bị trao trả lại độc lập cho Philippines.
Tuy nhiên tình hình biến chuyển theo chiều hướng có lợi cho đàm phán. Paris cần một số tiến bộ tại Hà Nội để hỗ trợ cho cuộc đàm phán với Tưởng ở Trùng Khánh về việc quân Pháp sẽ thay thế quân Tưởng ở Bắc Bộ. Chính phủ xã hội mới của Felix Guin thay thế De Gaul cũng tỏ ra mềm mỏng hơn. D’Arengenlieu quay về Pháp để xin ý kiến chính phủ mới, không quên dặn Leclerc chưa vội nhượng bộ với chữ “Independence”. Sainteny báo cáo là Hồ nhất quyết sử dụng câu: “độc lập trong thành phần Liên hiệp Pháp”, nếu không có thể có chiến tranh.
Ngày 14/2, Leclerc điện về Paris “đang có cơ hội để chính phủ Pháp ra tuyên bố ủng hộ việc dùng chữ Độc lập cho toàn Đông Dương, nhưng có giới hạn, trong khuôn khổ khối Liên hiệp Pháp”. Đáng tiếc là D’Argenlieu, một người bảo thủ được mệnh danh là “bộ óc thông minh nhất của thế kỷ 12” đã không chấp nhận ý tưởng này.
HCM có vẻ sẵn sàng chấp nhận sự quay lại của Pháp với một số điều kiện nhưng ông cũng phải đối diện với nhiều sức ép bên trong về việc không được nhượng bộ Pháp. Báo chí đối lập ra sức đả kích vụ Hồ đàm phán với Pháp, đòi giải tán chính phủ “của bọn phản bội” đang bán đứng quyền lợi dân tộc cho Pháp. Pháp làm khó thêm tình hình khi càng ngày càng đẩy mạnh chiến tranh tại. Tháng 11/1945, Pháp chiếm thành phố nghỉ mát Nha Trang. Vài tuần sau, quân của tướng Alessandri vượt biên giới tại Lai châu, bắt đầu chiến dịch đóng cửa biên giới, cắt đứt liên hệ của Việt Minh với Nam Trung Hoa. Tướng Tưởng là Lư Hán xác nhận quân Pháp đã vào miền Bắc, nhưng phủ nhận đó là thỏa thuận trong cuộc đàm phán Hoa-Pháp. Paris cũng lệnh cho Leclerc chuẩn bị đổ bộ ra Hải phòng.
Khoảng giữa tháng 2/46, Pháp cảnh báo Việt Nam phải nhanh chóng thoả hiệp vì hiệp định Hoa-Pháp sắp được ký. 18/2, Sainteny điện về Paris thông báo Hồ đã nhượng bộ không dùng chữ “Independence” mà chỉ cần Pháp “công nhận những nguyên tắc tự trị của Việt Nam, trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp”. Argenlieu đồng ý trên nguyên tắc.
Ngày 22/2, Hồ trả lời phỏng vấn, không bình luận về tin đồn về hiệp định Pháp-Việt. Trên thực tế, chính phủ tích cực chuẩn bị chiến tranh, thành lập thêm các đơn vị dân quân tự vệ, bắt đầu sơ tán trẻ em và người già khỏi thành phố. Sainteny, đã đồng ý với nguyên tắc tự trị của VN (nhưng không nhắc đến từ độc lập), lại nêu yêu cầu mới, đòi hỏi chính phủ Việt Nam phải có sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp dân chúng mới có thể đứng ra ký hiệp định.
HCM chỉ đạo đẩy nhanh kỳ hạn họp quốc hội lần thứ nhất mới được bầu tháng giêng, lập ra chính phủ liên hiệp. Theo Võ Nguyên Giáp, Hồ đã nhờ Tiêu Văn, vốn rất ghét Pháp, thuyết phục phe đối lập thoả hiệp để có thể thành lập chính phủ chống Pháp.
—
Khoảng 4h chiều ngày 6/3, tại toà biệt thự trên Lý Thái Tổ đối điện với Bắc Bộ phủ, toàn văn bản hiệp định đã được công bố trước các đại diện Việt Nam, Pháp và một số nhà quan sát khác. Hiệp định thừa nhận Việt Nam dân chủ cộng hoà “là một quốc gia tự do, có chính phủ, quốc hội, quân đội và tài chính riêng, nằm trong khối Liên hiệp Pháp”. Pháp cũng đồng ý việc tiến hành trưng cầu ý dân ở cả ba miền để thống nhất đất nước. Đổi lại Việt Nam đồng ý để 15000 quân Pháp vào Bắc Bộ thay thế quân Tưởng.
Hồ Chí Minh ký trước rồi đưa cho thứ trưởng quốc phòng Vũ Hồng Khanh (Việt quốc) ký tiếp theo.
Sau lễ ký, đáp lại sự hài lòng ra mặt của Sainteny, Hồ phát biểu: “ông đã thắng, ông biết rằng tôi muốn nhiều hơn thế. Nhưng tôi hiểu rằng không thể có mọi thứ ngay một lúc”. Sau đó Hồ bình thản lại ngay, quay sang nói với Pignon và Sainteny: “Tôi có một điều an ủi, đó là tình bạn giữa chúng ta”.
Khi nghe tin về Hiệp định Việt Pháp, ngoại trưởng Mỹ James Byrnes nói “thế là Pháp đã hoàn tất việc thâu tóm Đông Dương”. Ngày 22/3, một cuộc diễu binh chung được tổ chức gần khu thành cổ Hà Nội để hâm nóng “tình hữu nghị Việt Pháp”. Xe của Pháp toàn do Mỹ sản xuất, máy bay Spitfire thì của Anh. Đám đông thì bên nào vỗ tay quân bên đấy.
Tin về bản Hiệp định được loan trên các báo ngay sáng hôm sau và được dân chúng đón nhận với sự thờ ơ chen lẫn ngạc nhiên và giận dữ. Tình hình ở Thủ đô khá căng thẳng. Các báo đối lập gọi Hồ là Việt gian. Làm HCM phải đăng đàn phát biểu:
Đất nước chúng ta được tự do từ tháng 8/1945. Nhưng đến giờ, chưa có một cường quốc nào công nhận điều đó. Bản hiệp định này mở đường cho việc công nhận quốc tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới. Chúng ta đã trở thành một dân tộc tự do. Quân Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam. Đồng bào cần phải bình tĩnh, giữ gìn kỷ luật, củng cố khối đoàn kết dân tộc. Tôi, Hồ Chí Minh, đã cùng với các đồng chí của mình chiến đấu suốt đời vì độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không thể phản bội đất nước của mình
Tất cả đã sẵn sàng để quân Pháp quay trở lại Bắc Bộ. Paris tức tốc điện cho Leclerc: “Hãy giương buồm lên”.
Khi trao đổi với Sainteny, thống sứ Pháp là D’Argenlier ngỏ lời muốn gặp Hồ trực tiếp. Hồ nhận lời ngay vì thấy đây là cơ hội để có thể đàm phán chính thức tiến tới phê duyệt hiệp định sơ bộ càng nhanh càng tốt. Ngày 24/3, Hồ đội một chiếc mũ rộng vành, cùng với Giám và bộ trưởng ngoại giao mới Nguyễn Tường Tam, lên chiếc thuỷ phi cơ Catalina, bay đến Hạ long gặp D’Argenlier trên chiến hạm Emile Bertin.
Sau khi xem những chiến hạm của D’Argenlier biểu dương lực lượng, hai bên trao đổi trong cabin của đô đốc. Hồ muốn phê chuẩn hiệp định ngay lập tức. D’Argenlier ngược lại, muốn các đại diện khác của Pháp làm quen với những điều khoản căn bản của hiệp định trước. D’Argenlier đề nghị tổ chức một cuộc họp trù bị dự kiến ở Đà lạt và sau đó sẽ đàm phán tiếp tục ở đó. Hồ đồng ý họp trù bị, nhưng sợ D’Argenlier sẽ kiểm soát tình hình ở Đà lạt, nên đề nghị chuyển địa điểm đàm phán sang Pháp, hy vọng có thể dùng uy tín cũ ảnh hưởng đến ý kiến của công chúng Pháp vốn đang rất dao động từ sau chiến tranh. Sainteny va Leclerc lại vào hùa với H, cho rằng như thế Hồ sẽ đỡ bị sức ép của phe đối lập và quân Tưởng. Cuối cùng D’Argenlier cũng đồng ý.
Cuộc gặp gỡ này là một bài tập hữu ích cho H. Nó giúp ông được đối diện với một tay thực dân lõi đời như D’Argenlier và đã đứng vững trong cuộc nói chuyện. Trên đường về, Hồ chia sẻ với đệ tử của D’Argenlier là tướng Salan: “Nếu đô đốc nghĩ rằng hạm đội của ông ta làm tôi sợ thì ông ấy lầm to. Những chiến hạm to đùng đấy làm sao bơi ngược vào các cửa sông của chúng tôi được.”
Ngày 30/5/1946, hơn 50,000 dân đã đội mưa đến khuôn viên Đại học Đông Dương để tiễn phái đoàn chính phủ đi Pháp đàm phán hoà bình. Phái đoàn do Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Hồ không có trong thành phần đàm phán chính thức mà tham gia với tư cách “Khách mời danh dự” của chính phủ Pháp. Cùng đi có Salan. Hồ thề trước đám đông sẽ phục vụ quyền lợi Tổ quốc và nhân dân Việt Nam, kêu gọi nhân dân tuân thủ các yêu cầu của chính quyền khi Hồ vắng mặt và tôn trọng người ngoại quốc. Sáng hôm sau, cả đoàn khởi hành từ Bắc Bộ phủ, sang sân bay Gia Lâm và cất cánh trên 2 chiếc Dakota. Tất cả đều mặc âu phục trừ Hồ vẫn chiếc áo khoác kaki và đi giày đen.
HCM dặn lại người thay mình đảm nhiệm chức Chủ tịch nước là nhà yêu nước lão thành Huỳnh Thúc Kháng: Tôi đi chuyến này lành ít dữ nhiệu, Cụ ở nhà thay tôi lo liệu. Dĩ bất biến, ứng vạn biến.
Paris chỉ thị cho phi công bay lòng vòng, bảo đảm phái đoàn chỉ đến Pháp khi kết quả bầu cử đã ngã ngũ và chính phủ mới được thành lập. Sau khi các thành viên khác được đưa đến Paris, thủ tướng bảo thủ mới bầu Georges Bidault phái Sainteny đến hầu chuyện Hồ mấy ngày ở Biarritz cho đến khí chính phủ mới được thành lập xong. Hồ rất lo lắng về diễn biến tình hình Paris và đặc biệt ở là Đông Dương. Có vẻ như D’Argenlier đang làm mọi cách để phá hoại hiệp định sơ bộ giữa Hồ và Sainteny. Sainteny ra sức trấn an Hồ là quốc hội Pháp sẽ không công nhận Nam Bộ nếu không có kết quả trưng cầu ý dân.
Ngày 6.7.1946, cuộc đàm phán chính thức Việt – Pháp khai mạc tại lâu đài Fontainebleau, cách Paris khoảng 60 km. Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị có: Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng, các thành viên: Phan Anh, Bửu Hội, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Phượng, Huỳnh Thiện Lộc.
Trong sự rối ren của chính trị Pháp và tính cách hiếu chiến của D’Argenlier Cuộc đàm phán chẳng đi đến đâu và ngày 13/9, Phạm Văn Đồng và phái đoàn đã trắng tay về nước.
Nhưng HCM có kế hoạch khác. Đối với ông riêng việc thủ tướng Pháp phải đón ông với tư cách nguyên thủ quốc gia và ngồi vào đàm phán với phái đoàn của Phạm Văn Đồng tại Paris, trước sự chứng kiến của toàn thế giới, đã là một sự thừa nhận tính chính danh của VNDCH.
Các e có thấy động thái này quen quen không? NAQ ở Đại hội Tour là một sự công nhận vai trò lãnh đạo cách mạng của NAQ ở Annam. “My dear friend” mở đường cho OSS chính danh hợp tác với Việt Minh. Còn bức ảnh chụp với thủ tướng Pháp tại Paris là lời thông báo tới toàn thế giới rằng, Việt nam dân chủ Cộng hòa, “có quyền được hưởng tự do độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do và độc lập.”
Vì chính phủ Pháp chỉ tiếp ông có mấy ngày, và không thuộc phái đoàn đàm phán, HCM dành toàn bộ thời gian để vận động sự ủng hộ cho Việt Nam độc lập.
Trong thời gian 99 ngày ở Pháp từ 22/6 đến 17/9 năm 1946, trong đó có 87 ngày ở Paris, HCM đã tiếp gần 400 đoàn khách, với hàng ngàn người, đủ các thành phần từ dân lao động, cảnh sát, tới bộ trưởng, thủ tướng. Đủ dân tộc, từ Việt, Pháp Hoa, Mỹ tới Algeria, Đức, Nga. Vô danh có mà nổi tiếng như Picasso, Erenburg, Jolios Quyrie hoặc doanh nhân Petithuguenin cũng có….
Trong một bữa tiệc do Sainteny tổ chức tại nhà riêng, Hồ đã gặp lại Albert Sarraut. Ông này kêu lên: “Cuối cùng thì tôi cũng tóm được ngài, tôi đã phải tốn gần cả đời để theo đuổi ngài” rồi ôm chầm lấy rất thân thiết. Saraut chỉ quan tâm không biết trường A. Saraut ở Hà Nội có còn không? Hồ cũng xin gặp De Gaule nhưng không được vì Charle “Lớn” không thích can thiệp vào công việc của chính phủ sau khi ra nghỉ hưu ở Colombey.
Thưa thây cho em hỏi, đúng là ngưỡng mộ sức làm việc phi thường của Bác, Nhưng ai trả tiền cho những cuộc chiêu đãi này. Tốn kém lắm chứ chẳng chơi. Mà theo em hiểu sau khi dành chính quyền thì ngân khố ta trống rỗng. Còn chính phủ Pháp chắc không đời nào lại tài trợ cho “kẻ thù” của mình rong ruổi teambuilding như vậy!
Thật hay là em đã đặt ra câu hỏi đó. Trước đây thầy cũng nghĩ đơn giản. Chủ tịch thì đương nhiên phải có tiền chứ. Cho đến ngày 7/2011, một đồng nghiệp của mẹ thầy là cô Đỗ Kim Anh, biết tôi tìm hiểu về Bác Hồ, đã gửi tặng thầy một cuốn sách- cuốn nhật ký về chuyến đi của Bác. Bố cô, Đỗ Đình Thiện, chính là thư ký của Bác trong chuyến đi này. Ông là người đã trực tiếp thu xếp, ghi chép nhật ký và thanh toán hóa đơn tất cả các cuộc gặp gỡ!
Bố mẹ cô Kim Anh, ông Đỗ Đình Thiện và bà Trịnh Thị Điền, đều là những đảng viên cộng sản. Sau khi bị bắt ra tù năm 1931, không liên lạc được với cách mạng, họ đã quyết định chuyển sang kinh doanh để kiếm tiền cho Đảng. Năm 1943, khi ông Nguyễn Lương Bằng liên lạc được với ông Thiện, quỹ Đảng chỉ còn 27 đồng Đông Dương. Ông bà Thiện đã ngay lập tức chi 30,000 đồng cho ông Bằng.
Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà ông bà tại 54 Hàng Gai trở thành nơi tiếp khách của Cụ Hồ và chính phủ. Ông bà đã mua và tặng cho chính phủ non trẻ nhà máy in tiền Tapin, số 5 Nam bộ. Kháng chiến nổ ra, ông bà đã để lại toàn bộ khu đồn điền Chine cho Bộ tài chính, lên chiến khu. Sau năm 1954 về Hà nội, ông tiếp tục làm nhân viên cho Bộ Tài chính nhưng không nhận lương cũng như bất kỳ một sự vinh danh, đãi ngộ nào.
Năm 1972, ông ra đi lặng lẽ thanh thản, như một người dân đã hoàn thành nghĩa vụ của mình với đất nước! Những con người thật vĩ đại và khiêm nhường đúng không bọn em.
Giờ em mới biết, phố Đỗ Đình Thiện ngay cạnh nhà em khu Manor Hà Nội
Bây giờ chúng ta quay lại Paris. Do vẫn có hy vọng là ĐCSP sẽ lên nắm quyền ở Pháp, HCM có gắng hoãn tiến hành các hoạt động quân sự để tìm biện pháp ngoại giao. Ngày 14/9 HCM đi gặp Moutet, bộ trưởng thuộc địa. Trong cuộc gặp, Hồ đã đề nghị hai bên cùng chịu trách nhiệm về tình hình ở Nam Bộ, nhưng Moutet từ chối, cho rằng Việt Nam tham gia vào uỷ ban theo dõi tình hình là vi phạm chủ quyền của Pháp. Moutet đề nghị ký bản Ghi nhớ (modus vivendi) để tránh cho đàm phán đổ vỡ hoàn toàn.
Bản ghi nhớ kêu gọi ngừng bắn tại Nam Bộ từ ngày 30/10 và nối lại đàm phán vào tháng Giêng 1947. Hai bên đồng ý về nguyên tắc là đại diện VN được uỷ quyền hợp tác với D’Argenlier để tiến tới hoà bình tại Đông Dương. Đến nửa đêm, Hồ đã đồng ý ký Bản Ghi nhớ. Saiteny nhớ lại mẩu giấy “nóng bỏng” đó đã được soạn thảo vội vã ngay trong phòng làm việc của ông và cho HCM “ít hơn nhiều cái mà ông ta hy vọng”.
Tại Đông Dương, người Pháp thở phào, còn người Việt cảm thấy bị làm nhục. Hồ đã nói với Sainteny khi cuộc họp kết thúc lúc 3h sáng: “Tôi đã ký vào bản án tử hình của tôi.”
Ngày 22/9, tàu cập bến Port Said, cửa ngõ phía bắc của kênh Suez. Hồ gửi thư trả lời một phụ nữ Pháp kêu gọi ông đừng để xảy ra chiến tranh. Hồ nói Việt Nam cũng như Pháp rất ghét đổ máu, nhưng cũng như dân Pháp, dân Việt mong muốn độc lập và thống nhất. Nếu Pháp công nhận những ước vọng chính đáng đó, Pháp sẽ chiếm được trái tim của cả dân tộc Việt Nam.
Cho đến giờ, các nhà sử học vẫn băn khoăn là tại sao Hồ không trở về nước ngay. Lý do Hồ viện ra với chính phủ Pháp vì sức khoẻ là không thể chấp nhận được vì Hồ chưa bao giờ để sức khoẻ của mình ảnh hưởng đến các mục đích chính trị. Một số người cho rằng, Hồ giành thời gian để tranh thủ diệt bớt bọn đối lập, tập trung quyền lực để chuẩn bị chiến tranh. Số khác thì nghĩ Hồ muốn những phản ứng tức thời về Bản Ghi nhớ lắng xuống đã. Sainteny thì đoán là Hồ sợ bị ám sát.
Duiker viết về việc này như sau:
Không hề nghi ngờ gì là Võ Nguyên Giáp đã sử dụng thời gian Hồ vắng mặt để tăng cường sự giám sát của Đảng với chính phủ. Đầu hè, Pháp đề nghị được tổ chức diễu binh nhân ngày 14/7. Theo tin tình báo, Giáp được biết là các phần tử đối lập sẽ tổ chức khiêu khích quân Pháp để phá vỡ đàm phán. Giáp từ chối Pháp vì lý do an ninh và ngày hôm sau tổ chức đột nhập trụ sở Việt quốc, phát hiện ra phòng tra tấn và một số tù nhân, cùng với kế hoạch bắt cóc con tin Pháp. Cuộc tấn công này đã chặn đứng âm mưu chống chính phủ nhưng đã làm sự căng thẳng giữa hai bên lên cao dẫn đến Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam rút khỏi chính phủ.
—
One thought on “Chuyện với Thanh – P3.C11: Chính danh”
Comments are closed.