Cả tuần Thanh cảm thấy hoang mang. Em chưa bao giờ rơi vào tình trạng này. Rất nhiều những sự kiện. quan điểm trong lịch sử mà em cho là hiển nhiên đúng, giờ có vẻ không phải là như vậy nữa. Trong trường có một vườn hoa hồng rất đẹp. Ngoài mục tiêu selfie những tấm ảnh để đời, nó còn là nơi để em thả hồn theo suy nghĩ.
Tại sao thầy lại bảo Việt Nam giờ vẫn lạc hậu về khoa học công nghệ? Chẳng phải mình đăng ký học ngành AI đang là tiên phong của thế giới rồi sao? Lại còn cá nhân xuất sắc và thế hệ canh tân. Không có cá nhân truyền cảm hứng, sao có thể có thế hệ canh tân. Hay ngược lại nhỉ. Điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội, giáo dục sẽ tạo ra một thế hệ khát khao đổi mới, rồi trong thế hệ đó sẽ tự nhiên sẽ nảy sinh những cá nhân xuất chúng? Tuần sau mình sẽ hỏi thầy câu gì nhỉ? Khi triều đình đã đầu hàng, Đại Nam chính thức trở thành quốc gia nô lệ của Pháp, không được tự mình quyết định bất cứ điều gì. Hàng ngàn năm chiến đấu vì độc lập không lẽ đến đây là chấm dứt?
———
Chào các em,
Duiker có lẽ cũng hiểu người Việt ta, ông đã viết thế này:
“Triều đình đầu hàng không đồng nghĩa với kết thúc mong muốn độc lập của Việt Nam. Trung quân, Ái quốc là những trách nhiệm nền tảng của giới thượng lưu theo đạo Khổng. Rất nhiều các quan lại và tướng lĩnh không chấp nhận hạ vũ khí. Đáng kể nhất là phong trào Cần Vương (Cứu Vua) của Phan Đình Phùng tại Hà Tĩnh. Khi Hoàng Cao Khải, bạn thơ ấu của Phan Đình Phùng đến khuyên ông đầu hàng, ông đã khảng khái trả lời như một nhà nho yêu nước:
“Nếu Trung Hoa, hàng ngàn lần mạnh hơn chúng ta, lại có biên giới chung với chúng ta, đã không thể dùng sức mạnh để đè bẹp Việt Nam, chỉ có thể nói sự tồn vong của dân tộc Việt Nam đã chính là nguyện vọng của Thượng đế”.
Tuy nhiên sự tồn tại của hai nhà Vua: Đồng Khánh do Pháp dựng lên ở Huế và Hàm Nghi bị lật đổ đang lẩn trốn trên núi kêu gọi phục quốc, đã tạo nên một sự chia rẽ sâu sắc trong tầng lớp trí thức nho giáo theo tư tưởng Trung quân trong suốt gần nửa thế kỷ sau. Một trong những nhà nho như vậy là Nguyễn Sinh Sắc
Có phải là Cụ thân sinh ra Hồ Chí Minh không ạ? Đồng hương của em
1/ Thông minh bất như Sắc
Đúng rồi, nhưng còn hơn như thế. Nguyễn Sinh Sắc được coi là một trong “Nam đàn Tứ Hổ”, 4 người giỏi nhất Nam đàn thời đó. Dân gian có câu:
“Thông minh bất như Sắc
Tài hoa bất như Quý
Uyên bác bất như San
Cường ký bất như Lương”.
Bà Hà Thị Hy, vợ hai phú nông Nguyễn Sinh Vượng (hay còn gọi là Nguyễn Sinh Nhậm) sinh hạ Nguyễn Sinh Sắc năm 1863, tại làng Kim Liên, huyện Nam đàn, Nghệ an. Bố mẹ mất sớm, Sắc phải ở với anh trai cùng cha khác mẹ là Nguyễn Sinh Trợ.
Mặc dù gia phả nhà Vượng còn ghi lại nhiều đời đỗ đạt, Sắc không có nhiều cơ hội để trở thành thư sinh. Anh Trợ thì không quan tâm. Ham học, lợi dụng những buổi đi chăn trâu cho anh, cậu thường ghé vào nghe ké lớp học của Vương Thúc Mậu. Lớn lên, Sắc đã nổi tiếng khắp làng về tính ham học và được Hoàng Dương (Hoàng Xuân Đường), bạn của Mậu, chú ý. Để ý thấy cậu bé thường xuyên nằm trên lưng trâu đọc sách trong lúc chúng bạn chơi đùa, Đường nhận lời đỡ đầu cậu. Năm 15 tuổi, Sắc theo Đường chuyển sang làng Hoàng Trù và bắt đầu học với cha nuôi của mình. (theo truyền thống nho giáo, những học trò tài năng thường hay được họ hàng hoặc người thân đỡ đầu. Khi đỗ đạt, cả cha mẹ và người đỡ đầu đều được hưởng vinh quang)
Họ Hoàng bắt đầu từ Hưng Yên và có dòng dõi khoa bảng. Bố của ông Đường đã từng ba lần đi thi và đậu tú tài. Cũng như tất cả các học giả khác, ông đồ Đường vừa dạy học vừa làm nông. Trong lúc chồng dạy học, vợ ông là Nguyễn Thị Kép và hai con gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An suốt ngày bận rộn ngoài đồng để nuôi sống gia đình. Truyền thống xã hội Việt Nam trao nhiều quyền cho người phụ nữ, tuy nhiên với ảnh hưởng ngày càng lan rộng của đạo Khổng đến thời điểm đó, vai trò của phụ nữ ngày càng trở nên thứ yếu. Họ không có cơ hội được hưởng giáo dục. Trong bối cảnh đó, bà Kép và con gái đã may mắn hơn vì có được chút ít kiến thức. Gia đình bà Kép cũng có truyền thống khoa bảng và bố bà cũng đậu tú tài.
Cậu bé Sắc đã lớn lên trong một môi trường như vậy. Cũng không ngạc nhiên khi cậu phải lòng cô bé Loan xinh đẹp. Mặc dù bà Kép hơi băn khoăn vì cậu mồ côi cha mẹ, đám cưới vẫn được tiến hành vào năm 1883. Cặp vợ chồng trẻ được bố mẹ vợ cho một căn nhà 3 gian ấm cúng ngay cạnh nhà. ở giữa hai nhà là gian nhà nhỏ đặt bàn thờ tổ tiên.
Trong 7 năm sau khi kết hôn với ông Sắc, bà Loan sinh được 3 người con: con gái Nguyễn Thị Thanh, 1884; con trai Nguyễn Sinh Khiêm năm 1888 và ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung. Ở Việt Nam, khi đẻ ra đứa trẻ được đặt một cái tên để nuôi, sau này khi lớn lên sẽ được đặt một cái tên khác, phản ánh mong muốn của cha mẹ. Sinh Khiêm sẽ được đặt tên là Tất Đạt, còn Sinh Cung là Tất Thành. Như các cặp vợ chồng thư sinh thời đó, ông Sắc tập trung học để đi thi, còn bà Loan làm ruộng, nuôi con và phục vụ chồng! Bà mất ngày 10/2/1901 vì hậu sản.
Có lẽ để trả ơn bà Loan, năm đó ông Sắc lại đi thi Hội và đỗ Tiến sĩ đệ nhị, hay Phó Bảng khoa Tân sửu. Tin vui này làm nức lòng cả hai làng Kim Liên và Hoàng Trù. Lần đầu tiên từ giữa thế kỷ 17, khu vực này mới có người đỗ cao như vậy. Phó Bảng là một học vị danh giá và thường mang lại quyền lực cũng như tiền bạc. Tuy nhiên Sắc không có mong muốn tham gia vào quan trường trong cảnh nước mất. Lấy cớ là đang để tang vợ, ông quyết định ở lại Kim Liên dạy học. Ông cũng lấy tên mới là Nguyễn Sinh Huy (sinh ra cho danh dự). Duiker có viết: “Theo dân làng kể lại, có lần Sắc đùa với khách đến thăm: 2 con trai ông có tên là Không và Cơm.”
Thực tế là Sắc không cảm thấy dễ chịu phục vụ trong bộ máy đang thối ruỗng. Ông thường chia sẻ với bạn bè sự cấp thiết của việc cải cách. Không giải thích được quan điểm “trung quân ái quốc” trong hoàn cảnh thực tế, ông khuyên học sinh từ bỏ con đường quan trường. Theo ông, tầng lớp quan lại hiện tại chỉ biết hà hiếp nhân dân.
Dễ dàng lý giải được sự thất vọng của Sắc về hệ thống xã hội lúc đó. Mô hình chính quyền nho giáo phụ thuộc rất nhiều vào sự trong sạch về đạo đức của tầng lớp quan lại được tuyển chọn qua thi cử. Hệ thống chỉ có hiệu quả nếu các quan lại áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức như phục vụ xã hội, chính trực và nhân từ, được huấn luyện từ nhỏ, trong việc thực thi quyền lực. Thế nhưng từ cuối thế kỷ 19, sự bạc nhược của triều đình đã dẫn đến sự suy thoái của các thể chế xã hội. Uy tín của Hoàng đế giảm sút nghiêm trọng. Tầng lớp quan lại lợi dụng chức quyền để làm giàu. Ruộng công bị chiếm hữu, nhà giàu lại được miễn thuế.
2/Tài hoa bất như Quý
Là Vương Thúc Quý.
Là con trai của Vương Thúc Mậu thầy dạy của Nguyễn Sinh Sắc, một chiến sĩ Cần Vương bị Pháp giết. Năm 1891, Quý đỗ Cử nhân dưới triều vua Thành Thái. Sau khi thi đỗ, ông không thi Hội mà nghe theo lời vận động của Phan Văn San (từ năm 1907 đổi tên là Phan Bội Châu), gia nhập đội “Sĩ tử Cần vương” chống Pháp.
Năm 1901, Vương Thúc Quý cùng Trần Hải, Trần Văn Lương và Phan Văn San tập hợp khoảng 20 người, mật mưu chiếm thành Nghệ An. Nhưng do bị mật báo, kế hoạch bại lộ. Nhờ Tổng đốc Đào Tấn che chở mà ba người thoát tội còn San bị xử án nên phải vượt biển đi Nhật Bản thành lập phong trào Đông Du sau này. Về quê, ông mở trường dạy học. Trong số các học trò của ông có hai anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyên Sinh Cung là hai con trai của đồng hương Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.
Năm 1904, Vương Thúc Quý tham gia phát triển lực lượng của hội Duy Tân của San ở quê nhà, vận động tài chính và tổ chức cho con em trong tỉnh sang Nhật du học.
Năm 1907, ông hưởng ứng phong trào Đông Kinh nghĩa thục, xây dựng phân hiệu Nghĩa thục ở làng Sen và gom góp Tân thư để làm thư viện. Cùng năm đó, trên đường chuẩn bị sang Nhật, ông bị ốm nặng phải về quê chữa trị. Ngày 19 tháng 7 năm 1907, Vương Thúc Quý qua đời, để lại nỗi hận chưa thể báo thù cha.
Ông có con trai là Vương Thúc Oánh, cưới con gái Phan Bội Châu. Ông Oánh là một trong những thành viên sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và là Đảng viên lão thành của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Duiker viết về ông như sau:
“Khi đó cậu bé Cung đã 11 tuổi, bắt đầu vào tuổi trưởng thành. Theo thông lệ, bố cậu đặt tên cho cậu là Nguyễn Tất Thành (Người sẽ thành công). Cậu được bố gửi đến học lớp của nhà nho Vương Thúc Quý, con của Vương Thúc Mậu, người đã nhảy xuống hồ tự tử để khỏi rơi vào tay giặc Pháp. Cũng như Sắc, sau khi đỗ đạt, Quý từ chối quan trường, ở làng dạy học, bí mật tìm cách lật đổ chế độ bù nhìn ở Huế. Khác với thông lệ, ông không bắt học sinh học thuộc lòng mà tìm cách cho các em hiểu được bản chất nhân đạo của các tác phẩm của Khổng Tử. Trước mỗi giờ học, ông lại thắp hương trước bàn thờ cha ngay trên tường lớp học để khắc sâu tinh thần yêu nước, chiến đấu cho Việt Nam độc lập vào tâm trí các học trò của mình. Đáng tiếc là chẳng bao lâu sau, lớp học bị đóng cửa vì Quý bỏ làng theo quân khởi nghĩa.”
3/Uyên bác bất như San
Người thứ ba, trong Tứ hổ, còn là một nhân vật kiệt xuất hơn nữa: Phan Huy San, hay còn được biết dưới tên khác nổi tiếng hơn nhiều Phan Bội Châu. Là một trong những người bạn gần gũi với Nguyễn Sinh Sắc, quê cách Kim Liên chỉ vài cây số. Mặc dù bố đỗ tú tài và được học kinh điển từ nhỏ, đối với Châu số phận của đất nước quan trọng hơn là quan trường. Khi còn trẻ ông đã tụ tập những thanh niên cùng chí hướng, phất cờ khởi nghĩa tại quê nhà. Khi bị giặc Pháp đàn áp, ông đã phải chạy vào rừng ẩn náu.
Năm 1900, Châu thi đỗ giải nguyên. Không hề có ý định quan trường, ông bắt đầu xây dựng phong trào tại các tỉnh miền Trung. Trong khi đi vận động, Châu thường ghé qua Kim Liên thăm các ông bạn là Nguyễn Sinh Sắc và Vương Thúc Quý. Họ thường trải chiếu ngồi uống rượu, có cậu bé Tất Thành phục vụ.
Châu nghiên cứu các tác phẩm của những nhà cải cách Trung Hoa như Khang Hữu Vị, Lương Khải Siêu và tin tưởng rằng Việt Nam phải từ bỏ xã hội truyền thống, tiếp thu công nghệ và cách tổ chức xã hội của các nước phương Tây thì mới có thể tồn tại được. Nhưng Châu lại tin rằng chỉ có lớp học giả mới có thể dẫn dắt đến những thay đổi đấy. Nhưng ông cũng muốn mượn một số di sản truyền thống để có thể có được sử ủng hộ của nhân dân. Vì thế, khi thành lập Hội Duy Tân năm 1904, ông đã mời hoàng thân Cường Để, một thành viên hoàng gia làm chủ tịch hội.
Cùng với các nhà cải cách Trung Hoa, Phan Bội Châu rất ngưỡng mộ mô hình Nhật Bản. Hoàng đế Minh Trị đã tụ tập được các tầng lớp ưu tú trong xã hội, thay đổi một cách sâu sắc xã hội Nhật Bản. Chiến thắng của Nhật hoàng trước quân đội Nga năm 1905 được coi như là biểu tượng của sức mạnh châu Á trước quân xâm lược châu Âu. Cuối năm 1904, Phan Bội Châu đi Nhật và bắt tay xây dựng trường học tại Yokohama để đào tạo những thanh niên Việt Nam yêu nước. Đó là khởi đầu của phong trào Đông Du.
Khi quay về Việt Nam, Châu đến Kim Liên và đề nghị anh em Tất Đạt, Tất Thành tham gia Đông Du. Nhưng Thành đã từ chối!
4/Cường ký bất như Lương
Không có nhiều thông tin về người thứ tư trong Nam đàn Tứ Hổ là Trần Văn Lương, cũng như ảnh hưởng của ông nếu có lên Nguyễn Tất Thành, nhưng có một nhân vật xuất chúng đương thời khác, tuy không sinh ở Nam đàn nhưng cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân vật chính của chúng ta. Đó là Phan Chu Trinh, người đỗ phó bảng cùng năm với Sắc. Trinh sinh năm 1872 tại Quảng Nam, là con út trong một gia đình 3 anh em. Bố ông là quan võ, cũng đã từng tham gia thi cử nhưng không thành, theo Cần Vương và bị đồng đội xử tử vì bị nghi làm phản. Trinh làm việc tại Bộ Lễ từ năm 1903. Ông đặc biệt quan ngại về nạn ăn hối lộ và bất tài của các viên chức tại nông thôn. Ông đã từng công khai nêu vấn đề này cho các thí sinh tham gia kỳ thi năm 1904. Năm 1905, Trinh từ chức, ông dự kiến tham khảo ý kiến với các nhà nho khác trên toàn quốc về phương thức hành động trong tương lai.
Trinh gặp Châu tại Hồng Kông và theo Châu sang Nhật. Trinh tán thành những cố gắng của Châu trong việc đào tạo cho thế hệ mới nhưng họ bất đồng trong việc sử dụng thành viên của hoàng gia cho phong trào. Trinh cũng cho rằng, tốt hơn hết là thuyết phục Pháp phải tiến hành những cải cách cần thiết cho xã hội Việt Nam. Tháng 8 năm 1906, Trinh công bố bức thư cho toàn quyền Paul Beau chỉ ra tình hình nguy kịch tại Việt Nam.
Trong bức thư, Trinh đánh giá cao những thay đổi mà Pháp mang đến cho Việt Nam trong lĩnh vực giao thông và liên lạc. Nhưng ông phản đối việc duy trì một triều đình bù nhìn thối nát, phản đối sự coi thường và khinh bỉ người Việt dẫn đến sự căm thù trong dân chúng. Trinh kêu gọi toàn quyền Pháp tiến hành ngay những cải cách xã hội theo các định chế dân chủ phương Tây. Nhân dân Việt Nam sẽ vô cùng biết ơn. Bức thư của Trinh gây chấn động lớn trong tầng lớp trí thức Việt Nam, đẩy cao sự mâu thuẫn với chính quyền.
Sắc, Quý, Châu, Trinh không phải là những người duy nhất tìm kiếm câu trả lời ở phương Tây. Đầu năm 1907, một nhóm các trí trức yêu nước đã lập ra Trường Hà Nội tự do, hay còn gọi là Đông Kinh Nghĩa Thục, theo mô hình Học viện của nhà cải cách Nhật Bản Fukuzawa Yukichi. Mục tiêu của trường là tuyên truyền các tư tưởng tiến bộ của Trung Hoa và phương Tây vào tầng lớp thanh niên Việt Nam. Đến giữa hè, trường đã mở được 40 lớp với hơn 1000 sinh viên. Được một thời gian, chính quyền Pháp nghi ngờ mục đích giáo dục của Đông Kinh Nghĩa Thục và ra lệnh đóng cửa vào tháng 12.
Nhưng người Pháp không thể ngăn được các cuộc thảo luận về sự tồn vong của dân tộc trên khắp đất nước. Tại Quốc Tử Giám, Huế, Nguyễn Sinh Sắc dạy các học sinh: làm quan của một xã hội nô lệ còn tệ hơn là nô lệ. Nhưng ông không tìm được lời giải. Sau này, Hồ Chí Minh nhớ lại cha ông thường ngửa mặt tự hỏi: Đi về đâu, “Anh, Nhật hay Mỹ?”
Vow, em không nghĩ là cậu trai Nguyễn Tất Thành lại được nuôi dưỡng và tiếp xúc những bậc đại cao thủ từ sớm như vậy. SGK thường chỉ nói mấy câu: “Lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước”
Đúng thế, yêu nước là chắc rồi, nhưng nghèo thì có lẽ là so với chuẩn bây giờ thôi. Chứ thời đó, người có học được trọng vọng. Chưa kể những ông Sắc Quý Châu Trinh đều là các bậc đại trí giả.
Giờ chúng ta quay lại với Tất Thành!
Sau khi học chữ nho với thầy Quý và bố, năm 1904, Thành đề nghị bố cho mình đi học tiếng Pháp. Ông Sắc hơi băn khoăn vì tại thời đó, chỉ có những người chịu làm tay sai cho Pháp mới học tiếng Pháp. Nhưng cuối cùng ông cũng đồng ý, có thể do ảnh hưởng từ các tác phẩm của những nhà cải cách Trung Hoa đang thuyết phục nhà Thanh thay đổi. Hè năm 1905, Thành bắt đầu học tiếng Pháp với một người bạn của bố tại Kim Liên. Tháng 9, ông Sắc đã xin cho cả hai con mình vào trường dự bị Pháp-Việt tại Vinh. Các trường kiểu này tại các tỉnh miền Trung được thành lập theo quyết định của toàn quyền Dumer, nhằm lôi kéo các trí thức trẻ khỏi nền giáo dục Khổng tử, chuẩn bị nhân sự cho bộ máy cai trị. Hai anh em Thành lần đầu tiên được học tiếng và văn hoá của Pháp. Các cậu còn được học chữ quốc ngữ đang được truyền bá trong giới trí thức tiến bộ.
Tháng 6/1906, sau khi quay lại Huế, Sắc gửi hai con mình vào trường Đông Ba nằm trong hệ thống giáo dục Việt Pháp mới. Trường nằm ngay trước cổng Đông Ba của thành Nội. Tiếng Pháp của cậu Thành lúc đó chắc chưa đủ giỏi để hiểu được khẩu hiệu của cuộc cách mạng Pháp gắn trên cổng trường: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Các năm đầu, học sinh được dạy bằng 3 thứ tiếng: Pháp, Hán, Việt. Lên năm trên, tiếng Hán bị hạn chế.
Mùa thu năm 1907. hai anh em Thành thi đậu vào Quốc học Huế, trường cao nhất trong hệ thống giáo dục Pháp Việt. Trường được thành lập vào năm 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái, nhưng đặt dưới sự điều khiển của Thống sứ Pháp. Trường có 7 bậc, 4 lớp bậc tiểu học và 3 lớp bậc trung học, chương trình tập trung vào tiếng Pháp và văn hoá. Triều đình muốn dần dần thay thế Quốc Tử Giám để đào tạo tầng lớp cai trị mới. Vì thế dân địa phương thường gọi là: “Trường thiên đường”. Cũng như các trường khác, thầy giáo rất nghiêm khắc, không chần chừ khi dùng roi vọt. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông Nordemann, lấy vợ Việt Nam và nói được tiếng Việt. Hiệu trưởng tiếp theo là ông Logiou, đã từng là lính lê dương.
Thầy giáo có nhiều ảnh hưởng với Thành là Lê Văn Miến, tốt nghiệp trường Mỹ thuật Paris. Miến có một kiến thức sâu rộng về văn hoá Pháp. Ông dạy các học sinh về những người Pháp tốt hơn ở nước Pháp, thổi vào tâm hồn các em một thành phố Paris vĩ đại với các bảo tàng và thư viện. Một thầy nữa thúc đẩy lòng yêu nước của Thành ở trường là thầy Hoàng Thông. Thông thường dạy học sinh: mất nước nghiêm trọng hơn mất nhà, mất nước là mất tất cả.
Tuần đầu tháng 5/1908, dân làng Công Lương biểu tình chống thuế. Viên quan đến xử lý bị bắt trói cho vào cũi, chở đến cổng Thống sứ Pháp. Ngày 9/5, khi đoàn biểu tình đi qua chỗ các sinh viên, Thành đã bất ngờ kêu gọi hai người bạn lật ngửa chiếc mũ nan, báo hiệu vứt bỏ “status quo” của mình, đứng ra làm phiên dịch cho nông dân đối thoại với thống sứ Lavecque. Cuộc đàm phán thất bại, kể cả sau khi vua Duy Tân đã can thiệp. Quân đội Pháp đã xả súng lên cầu Tràng Tiền làm hàng trăm người chết và bị thương.
Đêm đó Thành phải đi trốn. Các bạn cậu chẳng ai có thể ngờ rằng, sáng hôm sau, khi tiếng chuông báo hiệu giờ học vừa dứt, cậu lại xuất hiện, ngồi đúng vào vị trí của mình. Nhưng cũng không được lâu. Đúng 9:00, một sĩ quan cảnh sát Pháp xuất hiện và sau khi nhận ra Thành, đã yêu cầu ban giám hiệu đuổi ngay kẻ phản nghịch ra khỏi trường.
Sau khi bị đuổi khỏi trường, Thành lánh đi mấy tháng rồi quyết định đi bộ vào phía Nam. Tháng 7/1909 Thành dừng lại tại Bình Khê để gặp cha mình. Sau đó Thành đến Quy Nhơn ở nhờ nhà một người bạn của cha mình là Phạm Ngọc Thọ định xin dạy học mà không thành. Không thất vọng, Thành đi tiếp đến Phan Rang gặp Trương Gia Mô, đồng nghiệp của cha cậu ở Huế và cũng là bạn của Phan Chu Trinh. Chủ nhà đã xin cho anh một chân dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết). Trường Dục Thanh được các nhà yêu nước địa phương thành lập năm 1907 theo mô hình trường Tự do Hà Nội. Ngôi nhà là sở hữu của một nhà thơ bản xứ, nằm ở bờ nam sông Phan Thiết. Trường do hai người con của nhà thơ điều hành. Cổng trường kẻ rõ khẩu hiệu: “Đoạn tuyệt với cổ hủ, đem tới văn minh”. Ngôn ngữ chính thức là quốc ngữ, một số môn được dạy bằng tiếng Pháp và tiếng Hán. Ngoài ra còn có các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật và thể dục. Thành đến Phan Thiết ngay trước Tết nguyên đán năm 1910, và nhận trách nhiệm dạy chữ Hán và quốc ngữ. Anh còn kiêm luôn chân dạy võ.
Vow, như vậy là Nguyễn Tất Thành văn võ song toàn. Em chưa nghe nói ở đâu là Bác Hồ có học võ cả. Nhưng theo những bức ảnh bác tập luyện và cả phong cách hành động của Bác thì có vẻ là có lý.
Thầy ghi nhận. Sẽ có lúc chúng ta biết được ai dạy võ cho Thành. Còn bây giờ theo trí nhớ của các học viên, thầy Thành mặc bộ bà ba trắng, đi guốc mộc và dạy theo phong cách của Socrat khuyến khích các học sinh đưa ra những ý tưởng của riêng mình. Chương trình giảng dạy tại Dục Thanh mang nội dung yêu nước khá rõ ràng. Bởi thế chủ đề tranh cãi không bao giờ là mục tiêu giành độc lập mà là bằng cách nào. Các thầy giáo trong trường chia làm 2 phe. Một bên ủng hộ Phan Chu Trinh với đường lối cải cách, bên kia ủng hộ Phan Bội Châu với chủ trương dùng vũ lực và dựa vào Nhật Bản. Đầu năm 1911, trước khi năm học kết thúc, Thành biến mất.
Ngày 2/6, một anh thanh niên tên là Ba xuất hiện ở cầu tàu ở bến Nhà Rồng. Thuyền trưởng Louis Eduard Maisen e ngại nhìn khuôn mặt thông minh nhưng thân hình khá mảnh khảnh của anh. Ba quả quyết là việc gì anh cũng làm được và đã thuyết phục được Maisen cho một chân phụ bếp. Ngày hôm sau, anh bắt tay ngay vào công việc rửa bát, giặt quần áo, lau sàn, nhặt rau và đốt lò. Ngày 5/6, “Đô đốc Latouche Treville” hú còi rời sông Sài Gòn ra biển Nam Trung Hoa, thẳng tiến tới Singapore về cảng Le Havre của Pháp.
Rất lâu sau đó người ta mới biết anh Ba chính là Nguyễn Tất Thành!
Thưa thầy, thực sự em vẫn chưa hiểu tại sao Nguyễn Tất Thành lại chọn con đường xuất ngoại như vậy. Với thân thế và được nhiều người ủng hộ, Thành hoàn toàn có thể đi với tư cách một học sinh du học chứ không phải làm phụ bếp trên một con tàu buôn. Chẳng phải cha cậu thường ngửa mặt tự hỏi “Mỹ, Anh hay Nhật?” tại sao Thành lại chọn đi Pháp. Hai mươi tuổi, liệu cậu có nhận thức được là mình đang đi tìm đường cứu nước?
Câu hỏi này hay và mở cho rộng đường suy luận
Em nghĩ Cụ sang Pháp bởi không cần xin visa.
Muốn đánh Pháp phải hiểu Pháp, một trong bốn ” tứ hổ ” của Nam Đàn và là người dạy tiếng Pháp đầu tiên cho cụ Hồ đã nói với cụ Hồ như vậy.
Cụ đâu chọn sang Pháp. Cụ xin việc trên tàu thuỷ Pháp. Cụ sang sinh sống ở Mỹ vài năm, sau sang ở Anh vài năm. Mãi tận 1916-17 cụ mới sang Paris ở. Chắc khi đó mới nhìn thấy cơ hội với cộng đồng người VN ở đó…
Nguyễn Tất Thành là một thanh có niên học, từ bé “chống xuồng đi nghe hát” cũng điếu đóm các bậc đại ca như các cụ họ Phan nên xu hướng chính trị cũng khá rõ, rõ ràng job phụ bếp không phải là món hời mà là bước chân để chu du thiên hạ. Ở VN dễ no ấm hơn, chữ Pháp cũng đã biết rồi, có ko được học tiếp thì cũng làm việc kiếm cơm tốt. Vậy giả thuyết động lực làm hoạt động chính trị thôi thúc việc mr Thành lên tàu có sức thuyết phục cao.
Có khi trốn chị Út Huệ, cũng là một giả thuyết có lý
Công bằng mà nói trong bối cảnh các phong trào đông du, đông kinh nghĩa thục, duy tân nổ ra, mr Thành với mạng lưới quan hệ khá tốt với tầng lớp tinh hoa thời đó ko rõ vì sao ko được đưa vào short list, củng cố cho giả thuyết mr Thành ko bộc lộ căn cốt gì và cũng chưa được đào tạo gì tử tế ở thời điểm đó.
Lên tàu với end goal in mind, điều đó có lẽ hơi hồ đồ để kết luận, nhưng với big dream thì có nhiều cơ sở. Túm lại là Cụ chơi bời la cà để xem có cửa làm ăn lớn ko.
Nếu Cụ có ý muốn tìm đường giải phóng dân tộc thì tư duy thâm sâu của một nhà nho là cần hiểu đối thủ của mình –> nên sang Pháp. Nếu cụ chưa hình thành ý muốn đó thì có thể là đi trải nghiệm giao lưu và tìm con đường cho cuộc đời mình.
Tàu mang tên 1 vị đô đốc Pháp. Sách phải ghi là “tàu buôn”. Nhưng những con tàu mang tên tương tự như tàu Đinh Tiên Hoàng, tàu Trần Khánh Dư… có phải tàu buôn không? Vì sao chi tiết này quan trọng, vì nó xác định người lên tàu đó có tham gia biên chế Legion (Lê-Dương) không.
Sách in của ta sau này nói thế chứ theo sách nước ngoài tàu mang tên này chỉ có tàu quân sự. Hải trình của tàu quân sự này năm 1911 có ghé cảng nhà rồng tuyển quân. Và năm 1946 ông cụ sang Pháp có đi viếng nghĩa trang lính lê dương, cái này khó có thể là tình cờ.
Sơ yếu lý lịch của anh Ba tự khai tại ĐCS Liên Xô sau này ghi giai đoạn này nghề nghiệp là “đi lính”.
Nhìn hành động thì thấy tại mỗi ngã rẽ trong đời thanh niên, Cụ chọn quẹo vô đường ko giống với đa số người cùng trang lứa; nhận thức qua đó có thể thay đổi qua từng năm tự vấn, trải nghiệm và con đường dần dần hiện ra.
Em nghĩ tuổi trẻ nên cứ đi thôi ạ.
Đi rồi mới thấy cơ hội này kia, mới nhận thức rõ ràng hơn, mở rộng thế giới quan và có cơ hội là mần.
Trần Phú làm Tổng bí thư một Đảng và soạn Luận cương chính trị …năm 26 tuổi! Vậy nên chẳng có gì phải nghi ngờ nhận thức của một lãnh tụ kiệt xuất (nhìn vào thành tựu) vào năm ông ấy 21 tuổi!
Thời đó, lên tàu viễn dương đi Pháp là thuận lợi nhất cho dân
Annam thuộc Pháp. Nếu ông Cụ áp dụng chiến thuật ‘vào hang bắt cọp’ thì sang Pháp là ưu tiên số 1. P/s: xấu nhất là giống boatpeople, cứ lên được tàu thì lên, đi đâu thì đi.
—
Thôi thôi, trả lời câu hỏi này chính là mục đích của môn học của chúng ta. Chúng ta sẽ biết rõ hơn hành trình của Nguyễn Tất Thành vào những chương tiếp sau.
Nhân tiện có em nhắc đến “boat people”, để thầy kể cho em chuyện này: Hồi bọn thầy sang Nhật tìm thị trường phần mềm, một anh bạn thầy làm ở Đại sứ quán Việt nam, có dẫn thầy đến thăm những thuyền viên “người rơm”, tức là những người đi làm thuyền viên, rồi tìm đường ở lại bên Nhật. Họ thờ Bác Hồ, là ông tổ “nghề” của họ, tức là cũng đi lao động trên tàu viễn dương rồi ở lại không về:)
Hôm nay tạm đến đây thôi vậy!
One thought on “Chuyện với Thanh – P1.C4: Nam đàn Tứ hổ”
Comments are closed.