Chương 2: Thoát Trung!
Xin chào các em. Rất vui là hôm nay chúng ta gặp lại nhau đầy đủ. Lịch sử hóa ra cũng không đến nỗi khô khan, đúng không?
Lần trước chúng chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu tại sao Việt nam lại từ bỏ chữ Hán-Nôm và sử dụng chữ quốc ngữ. Chữ quốc ngữ do các nhà truyền giáo phương Tây sáng tạo ra để ghi âm tiếng Việt. Nhưng chính họ cũng không sử dụng mấy, cho đến khi Pháp xâm lược Việt nam và vì lý do có lẽ là thuận tiện cho họ, đã chọn chữ quốc ngữ là chữ viết tiếng Việt chính thức cho các văn bản, ngoài tiếng Pháp. Các nhà nho, đặc biệt là miền Bắc và miền Trung đã ra sức duy trì chữ Hán-Nôm, nhưng cuối cùng buông xuôi khi vua Khải Định bãi bỏ kỳ thi của triều đình, vốn là mục đích cuối cùng của hệ thống giáo dục khoa cử dùng chữ Hán.
Sau khi giành được chính quyền năm 1945, HCM phát động phong trào Bình dân Học vụ, biến chữ quốc ngữ thành chữ viết bắt buộc cho tất cả mọi người, rồi sau đó chiến tranh liên miên, không ai còn băn khoăn tơ tưởng gì đến chữ Hán nữa, cho đến khi bạn Thanh lạc lõng trong ngôi đền của làng mình, được khắc toàn bằng chữ Hán.
Thưa thầy, khi em chia sẻ với các bạn bè, có rất nhiều ý kiến đóng góp, phê phán và phản biện ạ.
Họ cho rằng ngoài người Pháp, các học giả như Trương Vĩnh Ký, phong trào Đông Kinh Nghĩa thục, hay những cố gắng cải cách của Phan Chu Trinh và nỗ lực Phạm Quỳnh đã thúc đẩy phong trào chữ quốc ngữ rất nhiều. Họ cũng cho rằng tỷ lệ mù chữ cao là do Việt Minh phóng đại ra, chứ về cơ bản đến năm 1945 tỷ lệ biết chữ quốc ngữ của dân ta đã khá cao, nên lựa chọn của HCM cũng chỉ là một quyết định tiện tay dắt dê thôi. Có người còn cho rằng, không thể nói Nguyễn Ánh là nguyên nhân gây ra cuộc xâm lược của Pháp. Mà có nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp khác.
Tuyệt vời.
Về vai trò của các nhà truyền bá chữ quốc ngữ người Việt, thì đúng là còn rất nhiều người nữa, như ý kiến của bạn bè em. Đặc biệt là các nhà báo, nhà thơ, nhà văn.
Về tỷ lệ biết chữ thì thời đó chắc chắn không có một số thống kê nào đáng tin cậy cả. Chưa kể có sự khác biệt đáng kể giữa các miền. Miền Nam thuộc Pháp chắc chắn là có nền giáo dục tốt hơn, có thể có tỷ lệ biết chữ quốc ngữ cao hơn. Tỷ lệ 5% do Duiker đưa ra có lẽ phản ánh tình hình tại nông thôn miền Bắc và một phần miền Trung, nơi phong trào Bình dân học vụ phát triển mạnh mẽ nhất.
Về cuộc xâm lược của Pháp, đó là một câu chuyện khá phức tạp, chúng ta sẽ đề cập đến sau. Nói Nguyễn Ánh là “châm ngòi cho hiểm họa này” có thể là hơi quá, nhưng chắc cũng không hoàn toàn sai.
Một buổi tranh luận thành công, thường đặt ra nhiều câu hỏi và tranh luận mới hơn các câu trả lời. Thầy chỉ dặn bọn em một điều nên tránh các cuộc tranh luận kiểu “còn gì mà phải nghi ngờ”, “rõ ràng là như thế”…
Bọn thầy xưa khi học Toán, đến đoạn nào chứng minh thấy bí hoặc lười nghĩ, hay viết bừa “dễ dàng thấy” hay “hiển nhiên rằng”… Đi ra nước ngoài học, thấy hóa ra cũng nhiều người mắc bệnh này. Thầy nhớ hồi Covid, có mấy nhà khoa học viết bài báo đăng trên Nature hẳn hoi, dẫn ra rất nhiều số liệu, rồi kết luận “dễ thấy rằng, virus SARSCOVI 2 là đột biến từ tê-tê” mà đọc mãi không thấy “dễ thấy” ở chỗ nào:-)
Mà thôi, bọn em còn cả một quãng đời phía trước để tiếp tục tìm tòi, tranh luận.
Còn hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu nào Thanh?
Thưa thầy, có lẽ từ khóa ám ảnh nhất với em từ buổi học hôm trước là “Thoát Trung”. Được là hàng xóm của một trong những nền văn minh cổ đại của thế giới vẫn còn tồn tại và phát triển, lại đang là cường quốc đang lên. Sao cứ phải đòi thoát ạ?
Một câu hỏi rất thú vị.
Thầy nhớ trong buổi học đầu tiên có em còn bày tỏ nguyện vọng: “Em lần đầu tiên ra nước ngoài đi Tàu nên thích tìm hiểu sử Ta”
Có vẻ như sử Ta và sử Tàu đan xen với nhau như một lẽ tự nhiên.
Thầy có một ông anh, khá uyên bác phát biểu kiểu đùa đùa, nhưng khá chính xác, đại khái thế này: chúng ta rất may mắn vì ở cạnh Tàu. Mỗi khi bị phê phán vì yếu kém gì đó, ta đều có thể nói đó là tại Tàu. Giờ “thoát” xong mà vẫn yếu kém thì không biết đổ cho ai:-)
Trong cuốn sách của mình Duiker đã viết về lịch sử Việt Nam trước khi bị Pháp xâm lược như sau:
“Có thể nói, hiếm có dân tộc nào trên châu Á đã chiến đấu bền bỉ và lâu dài để bảo vệ nền độc lập của mình hơn người Việt Nam. Từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên, khi nước cộng hoà Roma còn đang trong trứng nước, Trung hoa đã xâm chiếm Việt Nam và thực hiện hàng loạt các chương trình chính trị và văn hoá để đồng hoá dân tộc này.”
Tuy nhiên, Duiker cũng nhận thấy rằng, với người quan sát bên ngoài, đặc biệt là phương Tây, rất khó phân biệt giữa Ta và Tàu, ông viết:
“Hơn nghìn năm chung sống với Trung Hoa đã để lại những hệ quả sâu sắc. Hệ thống chính trị, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo và cả ngôn ngữ Hoa đã bắt rễ sâu bền trên mảnh đất Việt Nam. Vua chúa Việt Nam cũng chấp nhận một vị trí Thiên Tử nhỏ hơn, kém oách hơn Hoàng Đế phía Bắc. Các viên chức điều hành Việt Nam (được gọi là Quan) được lựa chọn qua những cuộc thi nắm vững những luận điểm của Nho giáo (ít nhất là về mặt lý thuyết là như vậy). Nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam dùi mài kinh sử theo cùng sách thánh hiền với các đồng môn Trung Hoa của họ. Các thiếu nữ thì chấp nhận làm người vợ, người mẹ tốt để chồng, con có thể thi đỗ thành tài.
Thực ra thì Việt Nam chẳng khó khăn gì trong việc hòa nhập vào vòng ảnh hưởng của văn hóa Khổng giáo Trung Hoa, vì hai nước có khá nhiều điều kiện tương đồng về địa lý và kinh tế. Khoảng 9/10 người Việt làm nông trong các xóm làng rải rác khắp đồng bằng sông Hồng. Không lao động chăm chỉ, không đặt lợi ích làng xã cao hơn cá nhân thì khó sống. Những quan lại biết cách thủy lợi, đắp đê quan trọng hơn thương gia, thợ thủ công.”
Ông nhận xét:
“Mặc dù văn hoá Việt Nam luôn có những yếu tố đặc sắc độc đáo, người quan sát không được đào tạo bên ngoài, sẽ chỉ thấy Việt Nam như một hình ảnh thu nhỏ của người láng giềng khổng lồ ở phía Bắc. Một con rồng, nhưng bé hơn!”
Vậy đấy, ta là một con rồng! nhỏ hơn rồng Tàu, nhưng là một con rồng với đầy đủ sự uy dũng của nó, chứ không phải là một bộ phận dù là rất quan trọng của rồng!
Và cuối cùng Duiker kết luận:
“Tuy có vẻ như người Việt sẵn sàng hấp thụ những ảnh hưởng văn hoá từ phương Bắc, họ vô cùng cương quyết trong vấn đề độc lập dân tộc. Những vị anh hùng dân tộc, từ Hai Bà Trưng đến Lê Lợi, Nguyễn Trãi đều xuất thân từ các cuộc kháng chiến. Lịch sử đã hình thành một dân tộc rất cá tính và có ý chí chống ngoại xâm mạnh mẽ.”
Đó chính là ý chí “thoát Trung” đầu tiên mà người ngoài dễ dàng nhận thấy. Tiếp theo, thầy sẽ cố gắng đề cập đến một dự án “thoát Trung” vĩ đại nữa trong quá khứ của cha ông ta: Có lẽ Việt nam là một trong số ít các quốc gia, có ngày Giỗ Tổ, mà không liên quan gì đến tôn giáo như Phật đản hoặc Phục sinh, Giáng sinh cả.
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Và đã là người Việt, dù đang sinh sống ở đâu: ở bển hay ở ta, theo những hệ thống tư tưởng nào: vàng hay đỏ… đều thống nhất Tổ là các Vua Hùng ở đất Phong Châu, Phú Thọ ngày nay. Đây thực sự là một yếu tố quan trọng đoàn kết người Việt trên khắp thế giới.
Có em nào ở đây quê Phú Thọ không? Có ah, lại trường chuyên Hùng Vương nữa. Quá liên quan.
Các em ạ, chúng ta thường trầm trồ, hàng năm hàng triệu người Hồi giáo hành hương về thánh địa Mecca. Nhưng ít để ý rằng: mỗi dịp giỗ Tổ, đền Hùng cũng đón hàng triệu du khách thập phương về dâng hương viếng tổ.
Năm 2019, tác giả Tạ Văn Toàn của TTXVN đã viết:
“Ban Tổ chức Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng 2019 cho biết, từ ngày 5 – 14/4 (tức từ ngày 1 – 10/3 âm lịch), Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì (Phú Thọ) đã đón trên 7 triệu lượt du khách thập phương về dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng.”
Cũng cùng năm 2019, Mecca đón con số kỷ lục là 2.5 triệu người hành hương.
Năm 2024, ngành du lịch vẫn chưa phục hồi hoàn toàn, nhưng con số ước tính cho Đền Hùng là 1.7 triệu người, còn Mecca là 1.5 triệu người.
Các con số có thể chưa hoàn toàn chính xác, nhưng qui mô người dân Việt hành hương về đền Hùng là cực kỳ đáng kinh ngạc. Đặc biệt nếu tính về qui mô dân số đạo Hồi có 1.9 tỷ thành viên, mà người Việt trên toàn thế giới chỉ xấp xỉ 100 triệu, các em sẽ thấy so lòng thành kính của dân ta với Vua Hùng, thì Hồi giáo chưa là gì cả.
Vậy các Vua Hùng là ai mà ảnh hưởng đến dân ta sâu sắc vậy?
Tra wiki ta sẽ đọc được truyền thuyết đại loại như sau: các Vua Hùng có 18 đời, đời đầu tiên là con trai cả của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ. Hai người gặp nhau ở Hồ Động đình và đã có với nhau 100 con mà không dung hòa được giống Tiên ở trên núi và giống Rồng ở dưới nước. Nên đã chia tay. Trong 50 con theo mẹ Âu Cơ, con trưởng đã lên ngôi ở Phong Châu, là nơi đặt đền Hùng bây giờ. Đến thời Hậu Lê, sử gia Ngô Sỹ Liên đã chính thức thừa nhận Vua Hùng là Quốc Tổ trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Ngoài rất nhiều các nghi vấn như có 18 đời Vua Hùng mà kéo dài đến hơn 2000 năm? Thì có một vấn đề sờ sờ mà chúng ta phải đối mặt đó là: Động đình là tên một hồ nước ngọt ở tít phía Đông bắc tỉnh Hồ nam của Trung quốc ngày nay, cách Phong châu hàng ngàn km!
Làm thế nào bây giờ?
Có lẽ dễ giải thích và cũng phù hợp với mong muốn của nhiều người Việt nhất là biên cương nước Ta thuở đó lên đến tận Động đình. Mà chắc thế thật.
Theo truyền thuyết thì mâu thuẫn Ta – Tàu trong tiềm thức có lẽ bắt đầu từ cuối thời Hùng Vương. Một nhân vật mới xuất hiện, được cho là con rể của Hùng Vương thứ 18, có tên là Thục Phán, đã cướp ngôi cha, tự lập nước lấy tên là Âu lạc, xưng là An Dương Vương, xây kinh đô ở Cổ Loa. An Dương Vương có cô con gái Mị Châu công chúa. Mà đã là công chúa, thì đương nhiên là xinh đẹp rồi. Triệu Đà vốn là một viên tướng nhà Tần, ly khai lập ra nước Nam Việt, đã nhòm ngó Âu Lạc, mà mấy lần đánh không thành vì An Dương Vươngcó nỏ thần. Bèn cử con trai là Trọng Thủy sang làm “nam nhân kế” cưa Mị Châu rồi lấy cắp lẫy nỏ thần. An Dương Vươngchủ quan nên đã để mất nước, giận quá chém chết Mị Châu rồi nhảy xuống biển tự tử
Trong nhận thức văn hóa ngày nay, Mị Châu thường được xem là một hình tượng nhân vật nữ làm hủy hoại cơ nghiệp lớn và để lại hậu quả nghiêm trọng.
Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để lên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu (Tố Hữu)
Bọn em đã sang thăm Cổ Loa chưa? Chưa à. Nên sang. Khá đẹp. Hãy còn di tích thành Cổ loa xây xong thì lại sập. Trong bảo tàng còn vô khối mũi tên đồng rỉ sét, tương truyền chính là từ chiếc nỏ thần xưa. Trước cửa đền thờ An Dương Vương là giếng Trọng Thủy, nghe nói nếu đem ngọc trai ở nơi Mị Châu bị chém chết rửa ở đây thì ngọc sẽ sáng bừng lên. Về tính ly kỳ, éo le, và hậu quả thì chuyện tình này còn hay gấp trăm lần Romeo và Juliet. Nếu sau này bọn em lớn lên, có đi theo đường nghệ thuật hay du lịch, nhớ truyền bá câu chuyện này ra thế giới.
Năm 2001, thầy mới có dịp lần đầu tiên đi Quảng Châu Trung quốc. Thật là tệ. Thế hệ thầy rất bị hạn chế, ít sách vở, không được đi nhiều để mở mang tầm mắt.
Đúng kiểu đối tượng mà các cụ Đông Kinh Nghĩa Thục đã mắng trong cuốn “Văn minh tân học sách”:
“Nói gì đến Tiêm la, Diến điện, Nam chưởng, Cao man là đất nước hẻo lánh quê kệch, không ai chịu đặt chân tới; nhưng ngay đến Trung hoa, đối với ta, vốn là chỗ cùng tộc loại, cùng đạo giáo, cùng lễ giáo, văn học, cho đến phương diện giao tế cái gì cũng giống nhau, thế mà người Tàu nhan nhản khắp nơi kinh kỳ đô hội bên ta, còn người nước ta thì chưa từng một ai đến thành Ngũ dương cả! Thế là tại sao?”. Thành Ngũ dương mà các cụ nhắc đến, các em ạ, chính là Quảng Châu. Cổng thành có 5 con dê nên gọi là Ngũ Dương.
Lần đó, tình cờ thầy mới biết là bên Tàu họ mới khai quật được mộ vua Triệu Văn Đế, chính là cháu nội của Triệu Đà. Tự dưng cảm khái nghĩ, biết đâu ông này chẳng là kết quả của mối tình Mị Châu – Trọng Thủy và là cháu ngoại của An Dương Vương. Bởi thế Nam Việt của nhà Triệu chính là Ta chứ không phải Tàu. Thậm chí Triệu Đà còn được coi là tổ của Ta. Mãi cho đến năm 111 trước Công nguyên, Nam Việt bị mất vào tay nhà Hán, sử Ta mới bắt đầu ghi nhận thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc.
Lý Thường Kiệt, năm 1075, danh tướng của nhà Lý, đã mang quân đánh Khiêm Châu, Ung Châu của Tống vì cho rằng đó là đất của Tổ tiên.
Cho đến tận năm 1427, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại Cáo còn nêu rõ, Triệu là đời vua đầu của ta:
Như nước Đại Việt ta từ trước. Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia. Phong tục Bắc-Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Cuối thế kỷ 18 Vua Quang Trung còn muốn mở rộng cương giới của người Việt bằng cách đòi lại toàn bộ hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây – vốn thuộc nước Nam Việt thời Triệu Ðà, bị nhà Hán thôn tính.
Năm 1802 khi đã lấy lại được toàn bộ đất đai cũ của các chúa Nguyễn, Nguyễn Ánh cho lập đàn tế cáo trời đất, thiết triều tại Phú Xuân, đặt niên hiệu là Gia Long năm thứ nhất và cử Lê Quang Định làm Chánh sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước là Nam Việt. Nhưng không được nên mới phải để là Đại Nam.
Thưa thầy, có gì đó sai sai, ta vừa thảo luận giỗ Tổ là các Vua Hùng, giờ lại nói Triệu Đà là tổ là sao ạ?
Thầy cũng thấy khó hiểu đây. Mặc dù truyền thuyết về Hùng Vương được ghi chép lại lần đầu tiên vào cuối đời Trần tại Hồng Bàng Thị truyện trong sách Lĩnh Nam Chích quái; Nhưng sử gia Ngô Sĩ Liên đưa vào Đại Việt Sử kí Toàn thư thành chính sử và trở thành Tổ nước ta ở cuối thế kỉ XV.
Câu chuyện Mị Châu – Trọng Thủy – An Dương Vương được chép trong hai cuốn sách có niên đại thời nhà Trần là Đại Việt sử lược và An Nam chí lược có những ghi chép vắn tắt về câu chuyện của Mị Châu. Ghi chép về Mị Châu trong cả hai quyển này đều có điểm chung là không có câu chuyện rải lông ngỗng. Tích “rải lông ngỗng” và Mị Châu bị chém được đưa vào Lĩnh Nam Chích quái, trong thời đô hộ nhà Minh, sau đó được các sử gia nhà Lê đưa vào Đại việt sử ký cũng vào cuối thế kỷ XV
Có điều gì đó đã xảy ra sau khi Lê Lợi đánh đuổi nhà Minh để giành lại độc lập. Những mẩu chuyện vốn là truyền thuyết, được các sử gia chính thống hóa và đưa vào chính sử.
Em nghĩ có lẽ chính vì chính sách của Nhà Minh đốt sạch, xóa sạch văn minh của Đại Việt
Cũng có thể như thế, năm 1407, Đại Minh lấy cớ nhà Hồ phản loạn, lật đổ nhà Trần, đã bãi bỏ chế độ chư hầu, mà sáp nhập toàn bộ lãnh thổ Đại Ngu của nhà Hồ, thành lập tỉnh Giao Chỉ. Sau khi thiết lập nền cai trị, Minh Thành Tổ thi hành chính sách Hán hóa một cách quyết liệt nhằm đồng hóa người Việt. Nghe nói là đốt sách, phá đền chùa miếu mạo, bắt hết người tài về Tàu. Động đến “ý chí độc lập” của người Việt. Bởi thế, khi Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh, giành lại được độc lập, các sử gia nhà Lê đã đưa truyền thuyết thành chính sử. Và kết quả là lịch sử nước ta được kéo dài thêm 2622 năm nữa. Để sử Ta hơn 4000 năm có thể sánh ngang về độ sâu với sử Tàu cũng tầm 4-5000 năm. (Theo huyền sử Trung Quốc, Hoàng Đế (Vua Vàng) trị vì trong khoảng 2698 TCN đến 2599 TCN và là người sáng lập ra nền văn minh Trung Hoa.)
Hay nữa là từ đó đến giờ, đã hơn 500 năm mà sử Ta vẫn đứng nguyên ở mức 4000 năm:-)
Nếu đúng thế, có thể nói đây là dự án “thoát Trung” vĩ đại của nhà Lê. Nhưng có “thoát” được Trung bằng lịch sử oai hùng 4000 năm, nhà Lê (sau này gọi là Lê sơ) cũng không tồn tại được lâu. Năm 1527, Mạc Đăng Dung lật đổ nhà Lê. Đất nước rơi vào nội chiến Nam triều-Bắc triều. Sau khi nhà Mạc thất thế, vua Lê được khôi phục, nhưng quyền lực thực chất lại nằm trong tay các chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Cuộc nội chiến biến thành tranh chấp giữa chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã thống nhất được đất nước, nhưng các nguồn lực đã bị bào mòn. Mặc dù dưới thời vua Minh Mạng, Việt Nam đã có lãnh thổ được coi là lớn nhất trong lịch sử tích bao phủ gần hết bán đảo Đông Dương, ước tính là gần gấp đôi diện tích hiện nay. Nhưng Việt Nam không phải là một nước mạnh, trở thành miếng mồi ngon cho ngoại bang.
Đến cuối thế kỷ 19, một lần nữa chúng ta lại “thoát Trung” nhưng lần này lại là một bi kịch!
Duiker đã tóm tắt giai đoạn “thoát Trung” này như thế này:
“Việt Nam đã giành được độc lập vào thế kỷ thứ 10, nhưng phải đến hàng trăm năm sau, khi Việt Nam chấp nhận một hình thức triều cống, các hoàng đế Trung Hoa mới chịu chấp nhận sự thật về một nước Việt Nam độc lập.
Cuộc đấu tranh về sự tồn vong đã hun đúc truyền thống quân sự, sẵn sàng chấp nhận dùng vũ lực để bảo vệ đất nước. Từ sau khi giành được độc lập, Việt Nam (lúc đó gọi là Đại Việt) đã có cuộc hành quân lâu dài về phương Nam chống lại Champa. Bắt đầu từ thế kỷ 13, Đại Việt đã bắt đầu thắng thế và thôn tính hoàn toàn Champa vào thế kỷ 17. Đất nước Việt Nam trải dài đến tận mũi Cà Mau trong vịnh Thái Lan và Việt Nam trở thành một cường quốc ở Đông Nam Á. Tuy nhiên đất nước đã phải trả giá cho sự phát triển. Các mâu thuẫn đã phát sinh ra cuộc nội chiến dai dẳng Nam Triều-Bắc Triều, Đằng Trong – Đằng Ngoài.
Gia Long tạm thời thống nhất được đất nước từ đầu thế kỷ 19, tuy nhiên các mâu thuẫn quyết liệt giữa các vùng về quyền lợi kinh tế chưa bao giờ được giải quyết trọn vẹn. Cũng tại thời điểm đó, các hạm đội châu Âu, theo chân của Vasco da Gama bắt đầu lảng vảng dọc bờ biển Nam Trung Hoa và vịnh Thái Lan để tìm kiếm kim loại quý, đặc sản và các linh hồn cần cứu rỗi. Không chịu ngồi nhìn kẻ kình địch Anh củng cố lực lượng tại Ấn độ và Miến điện, người Pháp quyết định chọn Việt Nam.”
Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng.
Năm 1885, Hiệp ước Thiên Tân được ký kết giữa chính phủ thuộc địa Pháp và nhà Thanh năm 1885 sau Chiến tranh Pháp-Thanh nhằm tranh giành ảnh hưởng ở Việt Nam. Hòa ước này chấm dứt chiến tranh Pháp-Thanh, buộc quân Thanh phải rút khỏi Bắc Kỳ, và công nhận nền bảo hộ của Pháp với Việt Nam.
Các em ạ, lần này thì ta “thoát Trung” thật, nhưng đáng tiếc lại rơi vào tay Pháp!
Ảnh: Sau khi đi thăm đền Hùng, thầy tôi, một võ sư Trung hoa, thừa nhận Hùng Vương và Hoàng Đế là cùng thời, lịch sử hai nước coi như dài ngang nhau!
One thought on “Chuyện với Thanh – P1-C2: Thoát Trung”
Comments are closed.