Chuyện với Thanh – P2.C8: Thoát hiểm

Đêm đó Thanh không ngủ được. Quá nhiều thông tin, quá nhiều cái tên, tên người và tên tổ chức. Nhưng em có cảm giác là chúng đang loay hoay tìm cách sắp xếp lại một cách có logic, hệt như đàn kiến sau khi bị vỡ bung ra đang tự động hợp lại với nhau để thành đường về tổ.

Em biết là mình không thể đợi được đến buổi học sau. Em phải gặp thầy sớm!

Vườn hồng chiều nay đẹp quá, nắng thu rải thảm vàng, chiều buông một làn sương mờ. Kiểu như ở đây sương khói mờ hương ảnh. Thanh rủ H đi cùng. Thầy đã ngồi đó từ lúc nào, trầm tư hút thuốc. Em không bao giờ nghĩ là thầy lại có thể hút thuốc.

Thưa thầy, em có một phát hiện mới. Nguyễn Tất Thành lên đường, không phải là từ 6/1911 mà từ trước đó 3 năm, khi anh bị đuổi ra khỏi trường Quốc học. Lúc đó anh 18 tuổi, bằng đúng tuổi em bây giờ. Ý em là nếu không bị đuổi, có lẽ anh sẽ theo con đường học hành giống như em?

Em không biết, nhưng rõ ràng sự kiện đó là cú hích. Đến như em, khi đi học ba mẹ em còn dặn thế này:
Học để làm người đâu phải để làm quan
Mai khôn lớn mới làm việc được
Đem tài đức ra giúp dân giúp nước
Đừng chạy theo hư danh mũ áo ông Nghè
Con sinh ra lớn lên trên mảnh đất làng quê
Dù cuộc sống đổi thay con đừng quên mất gốc
Đất nước trường tồn là giữ được hồn dân tộc
Chẳng đánh mất mình khi ta giữ được bản sắc quê hương

Thì lòng yêu nước và tri thức của Thành được các bậc cha chú ở Nam đàn Tứ hổ hun đúc và tích lũy chắc lúc đó đã chín muồi. Như một chiếc xe đã nổ máy, đổ đầy xăng, chỉ cần một cú dấn ga. Anh chưa biết là sẽ phải đi đến đâu. Nhưng anh biết rằng anh phải lên đường, và tìm hiểu thế giới.

Có thể là em có lý. Thầy cũng nghĩ là Thành đã suy nghĩ rất nhiều về giai đoạn trước 6/1911. Không dễ dàng mà lên được một con tàu của Pháp. Nên chuỗi sự kiện có lẽ sẽ như thế này:

Chắc chắn là anh đi bộ vì bản chất muốn học hỏi, vả lại đi xe có thể không an toàn. Không thấy sách vở nào ghi, nhưng thầy có thể đoán được anh sẽ ghé qua Tam kỳ, quê hương của Phan Chu Trinh trước khi đến gặp bố lúc đó đang ở An khê, Bình định. Rồi từ đó được giới thiệu cho Trương Gia Mô và tổ chức Liên Thành Thương quán và nhiều khả năng là chính LTTQ đã lo thủ tục để anh có thể được lên tàu một cách hợp pháp.

Vậy là xuất thân từ Nam đàn Tứ hổ, Thành đã được LTTQ nâng đỡ.

Nhưng nếu được nâng đỡ lên tàu hợp pháp, tại sao anh ấy lại không đi như một hành khách bình thường?

Theo thầy, chính thời gian suy nghĩ trong suốt 3 năm qua, đã làm cho Thành đi đến quyết định, phải tách ra khỏi vòng tay của cha chú. Viêc xin làm phụ bếp trên tàu một việc có lẽ là gây ngạc nhiên với chúng ta hiện nay, nhưng cũng hợp logic này. Thành phải học cách tự lực. Nhiều khả năng là đúng như Trần Dân Tiên đã kể, Thành lúc đó đã lấy tên là Văn Ba, đã cam kết với thuyền trưởng là có thể làm bất cứ việc gì và phải làm phụ bếp có lẽ đơn giản là việc đó còn trống. Với một vị thế thấp như thế, lại có nền tảng giáo dục khá toàn diện so với thời đó, có lẽ anh sẽ có cơ hội để gây ấn tượng với các hành khách và thủy thủ trên tàu trong suốt thời gian lênh đênh trên biển.

Tiện thể thầy cũng muốn nhắc bọn em chút. Từ kinh nghiệm cá nhân, thầy thấy các bạn trẻ giờ có học hành đàng hoàng chút, khi mới ra trường, xin vào công ty hay đòi hỏi phải được làm chỗ này chỗ kia. Mà chẳng phải đi làm, ngay khi mới đi thực tập đã có tư tưởng đó rồi. Thầy khá ngạc nhiên, tại sao lại tự tạo sức ép cho mình như thế. Thầy tin chắc rằng, mình có đi được xa hay không, chủ yếu là phải nhờ sự giúp đỡ của rất nhiều người khác. Nên việc đầu tiên là phải gây cảm tình với các đàn anh và kết nối để đi xa chứ. Thời thầy, lúc mới vào FPT, cũng chỉ dám xin chân đến sớm pha trà rót nước, đọc sách, rồi đợi các anh như a Công, a Bảo đến ngồi học ké.

Em hiểu rồi, như vậy là ta có thể học được từ HCM những điều rất bình thường thầy nhỉ. Tiện thể em có thắc mắc nhỏ. Nếu muốn giao tiếp được với khách trên tàu, sao Thành không lấy một cái tên kiểu Tây nhỉ, kiểu như Tom (Thomas)… Em thấy các bạn làm công ty nước ngoài bây giờ toàn thế.

Thầy nghĩ là Thành muốn giữ bản sắc Việt nam. Cái tên Ba vừa Việt, mà cũng rất dễ đọc cho đối tác nước ngoài là một lựa chọn quá hay. Trong ngành công nghệ cũng có một cái tên mà thầy rất thích. Mà chắc chắn em cũng biết. Là Zalo. Rất Tây và cũng rất Ta. Dễ nhớ gợi cảm. Và quan trọng nhất là những người đã nghĩ ra cái tên đó cũng được cảm hứng từ HCM đấy. Ngạc nhiên chưa?

Vow, thật là một mối liên hệ thú vị. Lúc nào thầy kể cho bọn em nhé. Giờ em phải sắp xếp các sự kiện của Thành cho thật logic đã.

Tách khỏi LTTQ, Thành phải tự trôi theo dòng đời, làm quen và học tập. Cậu thấy hóa ra không chỉ có Pháp mới bóc lột thuộc địa, mà Anh, Đức, Bỉ cũng vậy. Không chỉ Việt nam mới rên xiết lầm than mà châu Phi, châu Á cũng thế. Cậu phát hiện ra là ở đâu cũng có người tốt người xấu. Và người ta có thể yêu nước theo những cách rất khác nhau. Cậu chỉ giữ liên lạc với Phan Chu Trinh vì biết rằng cậu phải đến Paris, thành phố của các cuộc cách mạng, sào huyệt của “kẻ thù” của dân tộc cậu. Cậu hiểu rằng cơ hội của đất nước yếu hèn như Việt nam phải đến từ những biến cố lớn của thế giới. Và đó là thời điểm cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc.

Đến Paris, Thành kết nối lại với Phan Chu Trinh, gia nhập nhóm Ngũ Long, qua Leo Poldes tham gia CLB Fabourg, làm quen với rất nhiều tên tuổi lớn của Đảng xã hội Pháp. Nhưng cậu vẫn là một thanh niên tập sự. Cậu phải đợi thời cơ.

Đó là hội nghị Versaille của các nước thắng trận. Thành đã tận dụng nó ngoạn mục để trở thành Nguyễn Ái Quốc, người truyền cảm hứng cho phong trào cách mạng Việt nam đang loay hoay mất phương hướng. Nhưng muốn có ảnh hưởng thực sự với đất nước, Quốc cần chính danh. Và cần học cách tổ chức. Lenin đã xuất hiện đúng lúc. Hóa ra châu Âu cũng có những người thực sự quan tâm đến giải phóng thuộc địa. Được mời tham gia Đại hội Tour, Quốc đã chọn quốc tế 3 và lọt vào mắt xanh của Manuilski, lên đường đi gặp Lê nin. Anh đã biết quá nhiều nhà tư tưởng. Anh cần một người thầy về tổ chức. Và không ai tốt hơn Lenin với cuộc CMT10 mới xảy ra.

Để thầy kể cho bọn em, Lenin đã ảnh hưởng sâu sắc thế nào đến Nguyễn Ái Quốc. Ngày 16/8/1945, Nguyễn Ái Quốc lúc đó đã có tên là HCM, tổ chức quốc dân Đại hội ở Tân trào, chuẩn bị bầu chính phủ lâm thời để tiến về Hà nội tiếp quản chính quyền. Ông cho treo ảnh Lenin ở chỗ trang trọng nhất (cùng với 2 người nữa), rồi giới thiệu với bà con, đây chính là người đã chỉ đường cho mình.

Vì mục tiêu của Nguyễn Ái Quốc cực kỳ nhất quán, nên anh luôn biết cách gây ấn tượng. Anh đã biến hiểu biết về đời sống nông dân thành điểm mạnh của mình, thúc đẩy thành lập Quốc tế nông dân và trở thành thành viên của ban lãnh đạo QTCS tại phương Đông (còn được viết FEB hay Dalburo).

Sau khi dựa thế QTCS để về Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc tiếp quản đội ngũ trẻ của Phan Bội Châu, làm thân với các lãnh đạo TQ ở cả hai bên: Chu Ân Lai, Lương Khải Siêu. Ông cũng bắt tay vào việc xây dựng đội ngũ nòng cốt bằng 2 việc rất quan trọng là mở trường Đào tạo và Ra báo. Đây cũng là một bài học rất hay mà bọn em cần nhớ. Sau này khi bắt đầu bất kỳ một sự nghiệp nào, cũng nên bắt đầu bằng Đào tạora một Tờ báo. Để tuyên truyền cho ý tưởng của mình. FPT cũng có một tờ báo nội bộ rất nổi tiếng là Chúng ta.

Nguyễn Ái Quốc thành lập tổ chức của riêng mình Việt nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Trong những lớp học trò đầu tiên của Q ở Quảng châu, có những người đã đi theo anh suốt cuộc đời như Phạm Văn Đồng. Vậy là từ Nam đàn Tứ hổ qua Liên thành Thương quán qua Ngũ Long, Fabourg Club, FCP, QTCS, VNTNCMDCH, Nguyễn Ái Quốc đã dần hình thành một con đường và sẵn sàng cho thực hiện việc lớn.

Nhưng nhân tính không bằng trời tính. Mọi việc không như ý anh và thách thức lớn nhất đang chờ đón anh phía trước. Có lẽ chúng ta đợi đến buổi học sau nhé. Thầy phải đi về rồi.

Chào các em. Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu bằng một câu hỏi của thầy. Đã em nào xem bộ phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” chưa? Chưa ai à. Cũng dễ hiểu. Đây là một bộ phim về giai đoạn Nguyễn Ái Quốc bị bắt và giam trong nhà tù ở Hongkong. Bây giờ là câu hỏi này. Nếu bọn em được đặt lại tên bộ phim bọn em sẽ đặt là gì nào?

Thưa thầy em sẽ đặt là Prison Break, tiếng Việt là Vượt ngục ạ

Em thì sẽ đặt là Người tù khốn khổ, haha thay cho Papilon

Em thì sẽ đặt là Hongkong Thoát hiểm.

Hay, đây là một phim hợp tác giữa Việt nam và Trung quốc. Bản phim phát hành bằng tiếng Trung có tên chính xác là Hongkong thoát hiểm đấy. Rõ ràng là hay hơn “NAQ ở HK”. Mà khéo poster tên đấy, bọn em đã đi xem rồi. Đây là vấn đề chung của các phim lịch sử Việt nam do nhà nước chi tiền. Nội dung hay nhưng hầu như không quan tâm đến quảng cáo phát hành, nên không chạm được vào giới trẻ.

Nếu là thầy đầu tư làm phim này, thầy sẽ đặt tên nó là “Khốn nhi tri”. Có lẽ đây là lần đầu tiên người chiến sĩ cách mạng NAQ rơi vào tình cảnh nguy khốn thực sự, và ông đã học được từ đó những bài học mà sau này nhà sử học Mỹ David Hamberstand gọi ông là người biết “Chạm vào tâm hồn và văn hóa của kẻ thù – Touch the culture and sound of his enemy”

Thưa thầy lần trước, khi bị Quốc dân đảng truy đuổi, NAQ chạy về châu Âu, chứ làm sao có thể quay lại Hongkong được?

Đúng như vậy. Tình hình Quảng châu thay đổi quá nhanh chóng theo chiều hướng xấu. Ngay cả đại diện quốc tế cộng sản Borodin, người bảo kê cho Q còn phải bỏ chạy, thì việc đầu tiên mà Q nghĩ đến phải là thoát thân. Đúng là ông đã về Matxcova tháng 6 năm 1927. Sau đó ông được phân sang Pháp, rồi đi dự hội nghị ở Bỉ, rồi hoạt động ở Đức. Mặc dù như mọi khi, ông tận dụng cơ hội này để xây dựng các mối quan hệ mới, làm quen với Sukarno, Nehru, gặp lại ông bạn Nhật Katayama Sen và đặc biệt với vợ góa của Tôn Trung Sơn là Tống Khánh Linh, người sẽ giúp đỡ ông trong một thời khắc sống còn trong tương lai không xa. Nhưng rõ ràng đó không phải là mong muốn của ông

Đến khoảng tháng 4/1028 thì Nguyễn Ái Quốc cạn tiền, ông viết một bức thư thống thiết về Dalburo miêu tả mình như một người:

Không được làm việc ở Pháp, vô dụng ở Đức nhưng rất cần ở Đông Dương. Tôi đã khẩn thiết đề nghị tổ chức cung cấp tài chính để tôi có thể trở về Đông Dương hoạt động. Tôi đã nói với đồng chí Doriot khi đi ngang qua đây là nếu không có tiền sống thì hãy cho tôi tiền đi lại để tôi có thể lên đường chứ không phải lang thang ở châu Âu này nữa. Rốt cuộc chẳng có hồi âm gì. Tình hình của tôi hiện tại như sau: 1/chờ đợi chỉ đạo trong vô vọng 2/không có gì để sống…

Rốt cuộc thì cấp trên cũng phải nhượng bộ và Q được cấp tiền để quay trở về châu Á. Tháng 7/1928, ông đến Thái lan nơi có khá nhiều cơ sở của Việt nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội.

Dưới danh nghĩa Hội Thân ái do Thanh niên Hội dựng lên từ trước, ông đi khắp nơi từ Mukdkhan ở phía đông đến Nộng Khai, chỉ cách một bờ sông với thủ đô Vientian của Lào. Ông đổi tên tờ báo tiếng Việt “Đồng Thanh” thành “Thân Ái” (gắn với một tổ chức do Thanh niên Hội lập ra). Ông viết thơ và các vở kịch, bằng một cách hành văn dễ hiểu, để kích động tinh thần yêu nước.

Mật thám Pháp đã mất khá nhiều công sức để tìm Nguyễn Ái Quốc sau khi ông rời Quảng Châu tháng 5 năm 1927. Chúng đã dò được Quốc ở Paris nhưng lại mất vết khi Nguyễn Ái Quốc bỏ về Brussel. Năm 1928, 1929 chúng nghe nhiều tin đồn về một người Việt kỳ lạ lang thang trong các làng Việt kiều ở Đông bắc Thái và tìm cách xác định danh tính người này.

Ngày 10 tháng 10/1929, toà án triều đình tại Vinh đã xử tử Nguyễn Ái Quốc vắng mặt về tội nổi loạn.

Trong lúc Nguyễn Ái Quốc đang lặn lội ở Xiêm thì các đồng chí trẻ trong Thanh niên Hội của ông hoạt động rất tích cực ở trong nước. Và có vẻ không ai chịu ai. Thực ra mâu thuẫn này có nguồn gốc từ chính sách hai mặt của Nguyễn Ái Quốc: cam kết theo chủ nghĩa quốc tế Marx-Lênin nhưng vẫn lấy độc lập dân tộc làm cương lĩnh hoạt động chính. Trần Cung ly khai, lập ra Đông dương Cộng sản đảng theo đường lối vô sản của QTCS. Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Quang Đạt lập ra An Nam Cộng sản đảng, như một thành viên của Hội. các đảng viên của Tân Việt ở miền Trung cũng gia tăng hoạt động. Họ đổi tên thành Đông Dương cộng sản Liên đoàn, nhằm tránh sự đào tẩu của đảng viên sang hai đảng kia. Thế là ở Việt Nam có 3 đảng cộng sản một lúc còn Thanh niên Hội thì chỉ còn cái vỏ.

Nguyễn Ái Quốc phải ra tay. Ông đến Quảng Châu 20/1/1930 và viết thư mời các đồng chí của mình đến Quảng Châu. Tuy nhiên họ lại cho rằng gặp nhau ở Hồng Kông an toàn hơn vì cảnh sát Anh tỏ ra bao dung với các hoạt động của các ngoại kiều. Điều kiện ăn ở cũng tốt hơn. Ngày 3/2, Đại hội thống nhất được tổ chức ở Cửu long. Đại hội diễn ra một cách êm thấm đáng ngạc nhiên. Nguyễn Ái Quốc nhẹ nhàng chỉ trích tất cả các bên và nhấn mạnh sự cần thiết phải đoàn kết. Hoá ra các mâu thuẫn kịch liệt chỉ là biểu hiện của tự ái cá nhân. Miền Bắc thì chê miền Nam lười và dễ tính, miền Nam lại chê miền Bắc khắc khổ và ương ngạnh. Cả hai miền đều không bằng lòng với việc các đồng chí Nghệ An chiếm hết các vị trí lãnh đạo. Để tránh phiền phức, Nguyễn Ái Quốc sử dụng uy tín QTCS của mình đề xuất giải tán tất cả các tổ chức hiện tại, lập ra đảng mới và được tán thành tức thì. Chỉ còn một vấn đề là đảng mới sẽ lấy tên là gì. Nhưng điều này Nguyễn Ái Quốc cũng đã lo trước, ông bỏ cả Đông Dương, An nam và sử dụng lại chữ Việt Nam của triều Nguyễn, đảng mới sẽ có tên là Đảng cộng sản Việt Nam. Phần còn lại của Đại hội diễn ra trong không khí đoàn kết và thân ái tiếp tục thông qua điều lệ và cương lĩnh của Đảng.

Trong thư gửi Hilary Noulens, đại diện cho FEB (Far East Buro), Nguyễn Ái Quốc miêu tả: “Từ quả trứng Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, đã nở ra Đảng cộng sản Việt Nam. Một tổ chức tuy còn non trẻ nhưng được tổ chức tốt nhất, có hiệu quả nhất và sẽ tiến bộ nhanh chóng”. Đảng có 204 đảng viên ở Bắc và Trung Bộ, 51 tại Nam Bộ, 15 ở Trung Quốc và 40 ở Xiêm. Trong các tổ chức sinh viên, học sinh, nông dân, Đảng có khoảng 3500 môn đồ.

Tuy nhiên, Quốc tế Cộng sản chủ trương chỉ thành lập ở Đông Dương một đảng duy nhất, thay vì riêng rẽ từng nước. Do vậy, tại Hội nghị lần thứ nhất của Ban chấp hành Trung ương Đảng ở Hồng Kông tháng 10 năm 1930, tên của đảng được đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương, với Trần Phú làm Tổng bí thư đầu tiên.

Trong giai đoạn 1930–1931, những cuộc nổi dậy trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh do Đảng cộng sản lãnh đạo bị chính quyền thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Những thành viên lãnh đạo như Trần Phú, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao… bị Pháp truy bắt và tử hình. Nguyễn Ái Quốc bị tuyên án tử hình vắng mặt lần hai vào tháng 2 năm 1930. Theo báo cáo của Surête, cuối mùa xuân năm 1931, hơn 2000 người đã bị hành hình, 51.000 thành viên của phong trào bị bắt. Ban lãnh đạo đảng trong Đông Dương hoàn toàn bị tan rã.

Trong khi đó, Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện cho FEB (văn phòng Viễn đông của Quốc tế cộng sản) vẫn bận rộn “đỡ đẻ” cho các đảng cộng sản trong khu vực. Ông không đồng tình với quan điểm của QTCS về việc thành lập các đảng khu vực mà nhấn mạnh đến các đảng riêng rẽ cho từng nước.

Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh việc giữ vững quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong báo cáo gửi Noulens ngày 18, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ, ĐCSVN đã kết nối với Singapore và cử đảng viên của mình tham gia hoạt động tại đó. Cuối tháng 3/1931, Nguyễn Ái Quốc đi tour trong khu vực với nhiệm vụ khôi phục tổ chức ở Nam Dương. Tại Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc qua Udon Thani, thông báo về việc thành lập ĐCSVN. Cuối thàng 4, Nguyễn Ái Quốc quay trở về Bangkok chủ tọa hội nghị thành lập đảng cộng sản Thái, bầu ban chấp hành lâm thời với 1 đại biểu Việt Nam từ Udon Thani. Sau đó Nguyễn Ái Quốc đi Malaysia và Singapore, dự hội nghị Đảng Nam Dương, cải tổ thành Đảng cộng sản Malayan.

Khoảng đầu thập niên 1930, nhằm chống lại sự bành trướng của Quốc tế Cộng sản, mạng lưới tình báo Anh-Pháp tăng cường hoạt động tại Châu Á, đặc biệt khu vực Đông Nam Á. Một đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản, Joseph Ducroux (còn có tên khác là Serge Lefranc) đã bị cảnh sát Pháp đọc trộm thư từ liên lạc rồi thông báo cho cơ quan tình báo Anh tại xứ Mã Lay thuộc Anh. Ngày 1 tháng 6 năm 1931, Ducroux bị bắt cùng 16 thành viên khác khi đang hoạt động tại Singapore. Từ những sổ tay và thư từ của Ducroux, có những bưu thiếp ký tên và địa chỉ của Nguyễn Ái Quốc tại Hongkong.

Vào lúc 2:00 sáng ngày 6 tháng 6 năm 1931, tại nhà số 186 phố Tam Kung, Cửu Long, một tốp cảnh sát ập vào bắt giữ Nguyễn Ái Quốc khi đó đang ở cùng Lý Phương Thuận (hay còn gọi là Lý Sâm). Nguyễn Ái Quốc bị bắt với nghi vấn tuyên truyền chống chính quyền Anh quốc theo “Sắc lệnh cấm xuất bản tài liệu chống chính quyền năm 1914” của chính quyền thuộc địa Hồng Kông rồi bị đưa về Nhà tù Victoria.

Cuộc sống phút chốc bị đảo lộn. Mọi quan hệ với trong nước bị cắt đứt. Đe dọa nhãn tiền là bị dẫn độ cho Pháp và triều đình Annam. Tương lai vô cùng bất định.

Nguyễn Ái Quốc (trên giấy tờ là phóng viên Trung Quốc Tống Văn Sơ) bị bắt mà không có trát của toà do cảnh sát nghi ngờ là có những hoạt động liên quan đến QTCS. Mặc dù Nguyễn Ái Quốc chẳng phạm tội gì của Hồng Kông, chính sách của Anh lúc đó là không cho phép sử dụng lãnh thổ mình để tiến hành các hoạt động lật đổ. Chính quyền sở tại tin chắc ông là Nguyễn Ái Quốc và tìm cách để trục xuất Nguyễn Ái Quốc sang Đông Dương theo yêu cầu của Pháp. Tuy nhiên do lúc đó giữa Pháp và Anh chưa có thoả thuận về dẫn độ tội phạm chính trị, cách duy nhất mà chính quyền có thể làm là đề nghị toà ra lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc ra khỏi Hồng Kông trên một con tàu và đến một địa điểm đã chỉ định sẵn.

Do không có hộ chiếu và Nguyễn Ái Quốc kiên quyết khẳng định mình là người Hoa chứ không phải người Việt Nam, toà phải mở phiên điều trần vào ngày 10/7/1931. Tại phiên điều trần này, Nguyễn Ái Quốc chỉ dùng tiếng Anh, khai mình sinh ở Đông hưng (thành phố thuộc Quảng Đông gần biên giới với Đông Dương). Ông thừa nhận mình đã sang Pháp, nhưng chưa hề tới Nga và càng không liên quan gì đến QTCS. Ông cũng phủ nhận mình có quen biết Lefranc mặc dù công nhận là mình đã ký vào bưu thiếp tìm thấy trong túi của Lefranc. Cuối cùng Nguyễn Ái Quốc đề nghị được dẫn độ sang Anh chứ không phải trục xuất sang Đông Dương. Nếu đối chiếu với quy định thời đó thì cuộc thẩm vấn này đã trái luật, vì Tống Văn Sơ bị bắt ngày 6 tháng 6 nhưng mãi đến hơn một tháng sau thì nhà chức trách mới thẩm vấn ông. Hơn nữa, người lấy cung không phải là người của tòa án mà là một người Anh làm việc tại Vụ Hoa kiều Hồng Kông. Gần cuối phiên điều trần, Nguyễn Ái Quốc bất ngờ nhận được sự trợ giúp pháp lý từ bên ngoài.

Duiker đã viết thế này:

Cho đến tận bây giờ, vẫn chưa ai rõ là làm thế nào mà luật sư Frank Loseby lại trở thành một nhân vật quan trọng của vụ án này? Có nguồn tin cho rằng ông ta có một trợ lý người Việt, anh này đã kể lại với ông chủ về Quốc. Bản thân Hồ Chí Minh sau này thì kể rằng mình và Loseby có chung một người bạn giấu tên ở Hồng Kông. Còn theo thông tin chính thức của Hà nội, Loseby được Tổ chức cứu trợ Đỏ quốc tế và Mặt trận phản đế (một công cụ của Matxcova để cứu giúp các đồng chí của mình bị sa cơ) thuê.

Loseby lập tức phản đối việc trục xuất Nguyễn Ái Quốc theo những thủ tục bình thường vì điều đó sẽ gây nguy hiểm cho Nguyễn Ái Quốc và Lý Sâm (cô gái cùng bị bắt với Nguyễn Ái Quốc). Lý do đơn giản là chính quyền Pháp ở Đông Dương đang theo dõi sát sao vụ này và đã đề nghị chinh quyền Hồng Kông thông báo địa điểm và thời gian trục xuất. Loseby muốn các thân chủ của mình phải được rời Hồng Kông theo sự sắp xếp của chính họ. Thống đốc Hồng Kông lưỡng lự nhưng cũng đồng ý. Ngày 24/7 ông này điện cho Bộ Thuộc địa ở London đề nghị thả tự do cho Nguyễn Ái Quốc và buộc phải rời Hồng Kông trong 7 ngày. Theo ông nếu trục xuất Nguyễn Ái Quốc sang Đông Dương thì chẳng khác gì dẫn độ và “mâu thuẫn với những nguyên tắc của nước Anh”.

Nhưng các quan chức Anh nghĩ khác:

Cá nhân tôi nhất trí với quan điểm của Bộ Ngoại giao là trả lại tay này về Đông Dương. Hắn là một tay kích động xấu xa bị bắt cùng một rọ với Le Franc ở Thượng Hải. Chúng ta quả là không may vì không tìm được đủ chứng cớ để tống cổ hắn vào tù ở Hồng Kông. Có vẻ các vị cảm thấy là nhân đạo khi cho hắn sang Nga thay vì đẩy vào tay kẻ thù của hắn. Nhưng hãy để ý rằng, các hoạt động cách mạng ở Đông Dương là bẩn thỉu, phần nhiều liên quan đến giết người, đốt nhà hoặc tra tấn dã man. Tuy không trực tiếp nhúng tay, nhưng đa phần các vụ này đều do Nguyễn Ái Quốc chịu trách nhiệm. Nếu hắn ta được tự do, hắn lại tiếp tục những hành động như vậy. Bởi thế tôi đồng ý quan điểm của chính phủ Pháp là các thế lực Thuộc địa cần đoàn kết với nhau để dập tắt những ổ dịch cách mạng lây lan nhanh chóng này bảo vệ lợi ích của văn minh ở phương Đông

Trước sức ép của Bộ Ngoại giao, cuối cùng thống đốc Hồng Kông đã ra lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc sang Đông Dương.

Để ngăn cản lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông, ngày 31 tháng 7 năm 1931, luật sư Loseby tống đạt đơn kiện yêu cầu đình quyền giam giữ (Habeas corpus, hay còn gọi là lệnh bảo thân) lên Toà án Tối cao Hồng Kông —tòa án cao nhất trong hệ thống tư pháp Hồng Kông— nhằm đưa vụ bắt giữ Tống Văn Sơ ra xét xử phiên tòa công khai.

Vow, như vậy là Tống Văn Sơ kiện ngược lại chính quyền Hongkong. Trước đến nay em vẫn nghĩ NAQ là bị đơn cơ đấy!

Đúng rồi em, nước Anh là nước có nền tư pháp vô cùng phát triển. Được coi là hình mẫu cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Hoa kỳ và các nước thuộc khối Thịnh vượng Chung. Rất nhiều vụ kiện ở Anh từ xa xưa được lưu lại như những tài liệu pháp lý quí giá.

Trong hồ sơ “vụ án Tống Văn Sơ”, nguyên đơn (người khởi kiện) là Tống Văn Sơ (chính là NAQ), bị đơn là chính quyền Hongkong, người đã ra lệnh giam giữ Tống.

Ngày 14/8, toà tối cao Hồng Kông đã mở phiên xét xử kéo dài trong mấy tuần. Tại phiên toà, Loseby đã chứng minh là chính quyền đã vi phạm pháp luật khi đặt những câu hỏi có nội dung chính trị, không liên quan gì đến vụ việc, trong lần thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc trước đó. Cảm thấy quan toà Ngài Joseph Kemp có thể huỷ bỏ lệnh trục xuất hiện tại, các quan chức Hồng Kông vội vàng thảo một lệnh theo một chương khác của Pháp lệnh về trục xuất năm 1917. Toà đã chấp nhận lệnh mới, nhấn mạnh rằng mặc dù việc trục xuất có thể dẫn đến những hậu quả tương đương như dẫn độ, nhưng cũng chẳng có gì trái với luật pháp nước Anh cả. Lý Sâm được trả tự do, còn Nguyễn Ái Quốc lại đối mặt với nguy cơ bị đưa về Đông Dương.

Ngay lập tức Loseby chống án lên Hội đồng cơ mật tại London, cho rằng chính quyền đã lạm dụng quyền lực. Được Hội đồng chấp nhận đơn, Nguyễn Ái Quốc có cơ hội thay đổi không khí vì ít nhất là cũng nhiều tháng sau vụ việc mới được xem xét.

Ông được chuyển sang bệnh viện Đường Bowen vì lý do sức khỏe. Mặc dù không có biểu hiện bệnh tật rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc bị kiệt sức và trông hốc hác. Trong hồi ký của mình, Nguyễn Ái Quốc miêu tả giai đoạn này khá tăm tối, bị ngược đãi, ăn cơm hẩm, cá thiu và thú vui duy nhất là săn rận. Tuy nhiên một số nguồn thông tin khác cho rằng, trong thời gian ở bệnh viện, Nguyễn Ái Quốc sống khá thoải mái, thường xuyên được vợ chồng một quan chức thuộc địa (bạn Loseby) và một số người châu Âu khác viếng thăm. Loseby cũng bố trí cơm nước cho Nguyễn Ái Quốc từ một nhà hàng cạnh bệnh viện. Nguyễn Ái Quốc dành thời gian rỗi để đọc và thậm chí đã hoàn thành một cuốn sách bằng tiếng Anh. Đáng tiếc là Loseby đã đánh mất nó trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Đến tận cuối năm 1931, đơn khiếu kiện của Nguyễn Ái Quốc được Hội đồng cơ mật đưa ra xem xét. Quyền lợi của Nguyễn Ái Quốc được luật sư D.N Pritt (hãng Light và Futon) bảo vệ. Đảng viên Đảng Lao động Stafford Cripps đại diện cho chính quyền Hồng Kông. Ông này, một mặt sợ mất mặt chính quyền Hồng Kông, mặt khác được mấy người bạn ở Bộ thuộc địa có tư tưởng thân cách mạng khuyên bảo, đã đề nghị thoả hiệp.

Kết luận của tòa:

Bên nguyên đơn tự rút đơn kháng cáo. Tòa án ra phán quyết giữ nguyên lệnh trục xuất Tống Văn Sơ khỏi Hồng Kông với 4 điều khoản:

1/Bỏ việc chỉ định “áp giải bằng tàu biển” trong lệnh trục xuất.

2/Sau khi trục xuất, nơi đến không được là lãnh thổ Pháp, thuộc địa bảo hộ của Pháp, hoặc đi bằng tàu biển của Pháp.

3/Chính quyền Hồng Kông sẽ nỗ lực tối đa đảm bảo Tống Văn Sơ được trục xuất đến nơi mà Tống mong muốn.

4/Chính quyền Hồng Kông sẽ góp 250 bảng Anh vào chi phí tố tụng cho bên nguyên đơn.

Ngày 28/12/1932, Nguyễn Ái Quốc được thả ra khỏi bệnh viện và phải rời Hồng Kông trong vòng 21 ngày.

Sau này, sau khi gặp lại HCM năm 1960 ở Hà Nội, ông Loseby đã viết trong thư cảm ơn: “Ngài nói rằng tôi đã “cứu sống Ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm và đó mãi mãi là một việc làm sáng suốt.” Còn bà Loseby thì nhớ lại: “Những ngày bị giam cầm khổ lắm nhưng nói chuyện với chúng tôi, Người đều nói rằng, tương lai cách mạng sẽ thành công. Khi tổ chức cho Người rời khỏi Hồng Kông, chúng tôi chỉ cầu mong Người gặp nhiều may mắn”. Bà Patricia, con gái của luật sư Loseby thì xúc động: “Tôi được nghe kể rất nhiều về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua bố mẹ tôi… Bố tôi thường nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người dũng cảm và rất thú vị… Tôi quý trọng Bác Hồ như phụ thân tôi. Từ những ngày thơ ấu, tôi đã có trong tim hình ảnh về Bác Hồ”.

Như vậy nhờ nắm vững luật pháp, kiên quyết không nhận tội trong phiên điều trần đầu tiên, gây được cảm tình và hợp tác chặt chẽ với luật sư, NAQ đã thoát hiểm một cách ngoạn mục. Các em phải nhớ rõ bài học này. Việt Nam ta là một nước tương đối tùy tiện, khi cạnh tranh trên môi trường toàn cầu do không nắm vững luật pháp dẫn đến hoặc làm bừa hoặc quá sợ hãi để đối tác bắt nạt, chịu thua thiệt.

Tuy nhiên hiểm nguy chưa phải đã qua. Làm thế nào để có thể quay về Nga an toàn mà không qua bất cứ một lãnh thổ nào mà người Pháp có thể bắt giữ? Duiker đã miêu tả khá ly kỳ trong cuốn sách của mình:

Trước khi xuất cảnh, để đánh lừa Pháp, ông Loseby đã tung tin Nguyễn Ái Quốc bị chết vì lao phổi. Tờ “Công nhân hàng ngày” của QTCS tại London đã đưa tin về cái chết của ông trong số ngày 11/8/1932. Tối ngày 25/1/1933, cảnh sát mặc thường phục đã dùng xuồng máy đưa Nguyễn Ái Quốc ra ngoài khơi đến một con tàu Trung Quốc đang nhổ neo đi Hạ môn.

Lúc này cảnh sát Pháp đã đánh hơi được Nguyễn Ái Quốc đang ở đâu đó Nam Trung Quốc và tăng cường truy nã. Các đảng viên ĐCS TQuốc thì đã phải rút hết vào bí mật từ sau vụ tàn sát 1927. May mắn cho Q, đúng lúc đó có đoàn đại biểu chống chiến tranh của Quốc hội Pháp do bạn ông từ thời Đảng cộng sản Pháp, Paul Couturier dẫn đầu đang ở thăm Thượng Hải. Nguyễn Ái Quốc quyết định dùng con bài cuối cùng: nhờ vợ goá của Tôn Trung Sơn, bà Tống Khánh Linh.

Anh thuê một xe taxi, liều mạng phi đến biệt thự của bà này tại Rue Moliere thuộc nhượng địa Pháp để bỏ một bức thư vào hộp thư. Trên đường về, nhờ chiếc xe trông quá xịn, Nguyễn Ái Quốc đã thoát được một cuộc vây bắt của cảnh sát Pháp. Madam Tống đã giúp Nguyễn Ái Quốc gặp được Couturier, ông này rất vui mừng vì biết bạn mình vẫn còn sống và giúp Nguyễn Ái Quốc liên lạc với một số thành viên của ĐCSTQ. Họ bố trí đưa Nguyễn Ái Quốc lên một chiếc tàu Liên xô chuẩn bị đến Vladivostok dưới danh nghĩa một doanh nhân Trung Quốc giàu có.

Những thông tin mới được tiết lộ gần đây nhất ở Matxcova cho thấy NAQ đã bị nghi ngờ vì thoát được khỏi nhà tù ở Hongkong. Có vẻ như Nguyễn Ái Quốc đã bị một toà án gồm có ông bạn cũ Manuilsky, chiến binh đa mưu của ĐCS TQuốc – Khang Sinh và bà Valeria Vasilieva xét hỏi. Không rõ tội danh của Nguyễn Ái Quốc là gì, tuy nhiên chỉ riêng việc ông có những quan điểm trái ngược với đường lối của Đại hội QTCS lần 6 về cách mạng dân tộc, thêm vào đó lại là bạn thân của Borodin đang bị xét xử cũng đã quá đủ để Stalin nghi ngờ. Việc Anh thả Nguyễn Ái Quốc tháng 12/1932 cũng làm dấy lên một số nghi vấn là ông đã nhận làm gián điệp để đổi lấy tự do.

Chắc là nhờ sự bảo trợ của Manuilsky và đặc biệt là Vasilieva, Nguyễn Ái Quốc đã thoát tội. Bà này đại diện cho bộ máy của QTCS trong việc tiếp xúc với các sinh viên Việt Nam và rất nhiệt tình bảo vệ Nguyễn Ái Quốc cho rằng lỗi duy nhất của ông là thiếu kinh nghiệm. Trong một bức thư gửi cho lãnh đạo của ĐCSĐD tại Nam Trung Quốc, bà đã viết: “liên quan đến Nguyễn Ái Quốc, anh ta cần phải học thật tốt trong 2 năm tới và không làm gì khác. Sau khi anh ta học xong, chúng tôi sẽ có kế hoạch sử dụng.”

Giai đoạn tiếp theo trong cuộc đời Quốc có thể coi là một “Khoảng lặng” mới. The next “missing years”.

One thought on “Chuyện với Thanh – P2.C8: Thoát hiểm

Comments are closed.