Trời cuối thu đầu đông, chớm lạnh, khô, Thanh thường rất hay bị ngứa nếu chỉ ngồi trong nhà. Vườn hồng mùa này xơ xác, thi thoảng một cơn gió nổi lên cuốn theo rất nhiều lá cây và đất bụi.
Chào em, lại có việc gì phải suy nghĩ thế này.
Dạ tự lời kết của bài trước ạ. Thầy nói “Lời “kêu gọi khởi nghĩa” ngày 16/8 là văn bản cuối cùng được ký dưới tên Nguyễn Ái Quốc. Ngày 2/9 năm 1945, đọc Tuyên ngôn độc lập đã là một người khác. Hồ Chí Minh. Đành rằng các lãnh đạo Việt minh trên Việt bắc đã biết HCM là ai. Nhưng với tuyệt đại đa số nhân dân, đó là một cái tên hoàn toàn xa lạ. Em vẫn thấy bâng khuâng. Tiếc một cái tên đầy huyền thoại, truyền cảm hứng cho cách mạng Việt nam.
Tất nhiên HCM phải tiếc hơn em chứ. Nhưng có lẽ ông cũng đã lường trước được điều đó. NAQ dù có nổi tiếng đến đâu, cũng đã gắn quá chặt với Quốc tế cộng sản. Mà mục tiêu ngay lập tức trước mắt là phải giành được độc lập. Nếu chỉ dựa vào đảng cộng sản đông dương thì lực lượng quá mỏng.
Trong sách của Duiker cũng trích Nguyễn Khang nói rằng, chỉ có hơn 50 đảng viên ở trong thành phố. Trần Văn Giàu ở Sài gòn tình hình còn khó khăn hơn sau vụ thảm sát khởi nghĩa Nam kỳ. Đảng phải dựa vào nhân dân. Việt minh, tập hợp tất cả những người muốn đấu tranh cho Việt nam độc lập, cần một hình ảnh lãnh tụ khác. Và thế là HCM ra đời.
Còn tại sao lại là Hồ Chí Minh? Có thuyết cho rằng Hồ là gốc họ của HCM, em còn nhớ giả thuyết liên quan đến Hồ Sỹ Tạo chứ. Cũng có thuyết cho rằng Hồ, chiết tự chữ tàu là một ông già dưới trăng, thể hiện sự thông thái phương Đông. Chắc chỉ có đương sự mới biết được thôi.
Dù sao thì NAQ cũng đã biến hình thành HCM một cách ngoạn mục. Em còn nhớ câu chuyện về cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên, mà mình đã bàn ở chương 5 có tên là Du nhi tri ko? Cuốn sách mà tác giả đã kể về anh Ba lên tàu với hai bàn tay trắng ấy. Mục đích chính của cuốn sách là giới thiệu cho đông đảo quốc dân biết HCM chính là NAQ. Và tác giả Trần Dân Tiên nhiều khả năng cũng chính là ông, vì có ai ngoài ông biết rõ những sự kiện đó.
Nhân tiện nói đến sách, có 1 cuốn sách cũng khá hay đó là “Gió bụi đầy trời” của nhà văn Thiên Sơn nói về những ngày Tháng Tám. Nhà văn này thì thật 100%, thầy đã nhậu với anh ấy:) Đây là một tác phẩm khá bất ngờ trong điều kiện hiện nay. Các sự kiện là có thật, nhân vật thật. Điểm thú vị là tác giả đã dám phân tích, tất nhiên là tưởng tượng thôi, nội tâm của những nhân vật chính của tất cả các phía, dẫn đến hành động như vậy.
Vâng em sẽ tìm đọc ạ.
—
Chào các em, buổi học hôm nay sẽ là một thách thức lớn cho thầy. Cả thế giới rung chuyển sau cuộc đại chiến đẫm máu và những gì xảy ra vào mùa Thu năm 1945 ấy với đất nước chúng ta thực sự là quá lớn. Đúng là “Gió bụi đầy trời”. Nên có lẽ thầy cần các em giúp đỡ để nhận diện và đề cập đến một vài sự kiện mà bọn em quan tâm nhất.
Thưa thầy em có thắc mắc tại sao lại nói là trong Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta đã vùng dậy cướp chính quyền? Lúc đó chính quyền đang là của ai ạ. Lần trước ta đã học là Pháp đã bị lật đổ. Nhật đã đầu hàng?
Thưa thầy em quan tâm đến một khía cạnh khác, có bài hát xưa mà em rất thích, bài Nam bộ kháng chiến của nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn
Mùa Thu rồi ngày 23, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
Tại sao ngày 23/9, tức là chỉ sau ngày HCM đọc tuyên ngôn độc lập có 3 tuần, Nam bộ đã phải kháng chiến?
Được rồi, tạm thời thế là quá đủ rồi. Chúng ta sẽ đi vào từng câu hỏi nhé. Xem Duiker nói gì về việc “Cướp chính quyền” nào:
Tình hình kinh tế ở Hà Nội đang có lợi cho cách mạng. Đồng bạc Đông Dương bị mất giá thảm hại, chỉ trong mấy tháng giảm từ 0.25 $ xuống còn 0.10. Chi phí sinh hoạt tăng 30 lần so với trước chiến tranh. Các tầng lớp trung lưu bắt đầu có cảm tình với Việt Minh, nhiều người bí mật mua trái phiếu Việt Minh. Trong hai tuần đầu tháng 8, đảng tìm cách cài người vào các đơn vị quân đội đóng trong thành phố và thiết lập quan hệ với đại diện của triều đình ở Bắc Bộ, ông Phan Kế Toại (ông này có con tham gia Việt Minh).
Ngày 13/8, Toại gặp Nguyễn Khang và khuyên Việt Minh tham gia thành lập chính quyền cùng Bảo đại để đón tiếp quân đồng minh. Khang từ chối và đề nghị Bảo Đại thoái vị nhường chính quyền cho chính phủ cộng hoà. Toại hứa sẽ truyền đạt thông điệp đó cho Triều đình. Cùng ngày, tại Huế, Trần Trọng Kim xin từ chức vì bất lực trước tình hình (ông này trước đây là nhà sử học) và trao quyền lại cho một chính phủ lâm thời. Các phần tử không cộng sản ở Hà Nội đã thành lập ra Uỷ ban Cứu quốc, tự xưng là đại diện cho chính phủ lâm thời mới này.
Ngày 15/8 sau khi Tokyo ký văn bản đầu hàng, quân Nhật tại Hà Nội ngay lập tức bàn giao quyền lực cho chính quyền lâm thời.
Tối ngày 16/8, người Hà Nội phấp phỏng chờ đón số phận của mình. Ánh đèn rực rỡ từ những khung cửa sổ khách sạn đối lập với màn đêm đen đặc và những ngọn đèn đường tù mù vì sợ bị oanh tạc. Tại một rạp chiếu bóng gần hồ Hoàn Kiếm bỗng vang lên những tiếng súng lục: Việt Minh chiếm sân khấu và kêu gọi khởi nghĩa. Một sĩ quan Nhật chạy ra ngoài lập tức bị bắn chết, nằm trên đường mấy tiếng đồng hồ không ai thèm ngó tới.
Để làm gì đó cứu vãn tình hình, ngày 17, một số thành viên chủ chốt của Hội đồng tư vấn Bắc Bộ, một tổ chức bù nhìn do Pháp lập ra cách đây 2 thập kỷ, họp tại Toà Thống sứ. Thành phần của Hội đồng này chủ yếu là thành viên của đảng Đại Việt và cũng là những người chiếm chân đa số trong Uỷ ban cứu quốc vừa được thành lập 4 ngày hôm trước. Hội đồng quyết định kêu gọi cuộc biểu tình của dân chúng để ủng hộ Bảo Đại.
Trong khi đó, dưới sự chỉ huy của Uỷ ban Khởi nghĩa Vũ trang, nông dân các làng ngoại ô đã chiếm chính quyền và tổ chức thành các đơn vị dân quân với giáo mác và vài khẩu súng kíp, sẵn sàng tràn vào nội thành vào sáng hôm sau.
Trưa ngày 17, trong lúc Hội đồng còn đang họp, các đảng phái thân chính phủ lâm thời của Trần Trọng Kim đã tổ chức một cuộc miting lớn với gần 20000 người tham dự ngay trước cửa Nhà hát Lớn. Khi cuộc mit-tinh còn đang diễn ra, các phần tử võ trang Việt Minh đã nhảy lên cướp khán đài, giật cờ triều đình, treo cờ đỏ sao vàng. Nguyễn Khang đã lên phát biểu kêu gọi quần chúng ủng hộ Việt Minh giành lại độc lập cho dân tộc. Cuộc mit-tinh đã kết thúc trong hỗn loạn, dòng người đội mưa tiến về Bắc Bộ phủ, Toà Thống sứ và khu phố cổ.
Đêm ngày 18, các uỷ viên Uỷ ban khởi nghĩa vũ trang của Việt Minh lặng lẽ đột nhập Hà Nội.
Rạng sáng chủ nhật, ngày 19/8. Dòng người từ các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, cuồn cuộn đổ vào thành phố hoà cùng với công nhân, sinh viên, tiểu thương và các công chức tò mò, bắt đầu tụ tập trước quảng trường Nhà hát Lớn. Đàn ông mặc áo nâu, đi dép cao su, đàn bà áo nâu, chít khăn mỏ quạ, đi giày cỏ. Rợp trời cờ đỏ sao vàng. Hôm đó là ngày chủ nhật, tất cả các cửa hàng, chợ búa đều đóng cửa.
Cuộc diễu hành bắt đầu bằng phút mặc niệm các chiến sĩ đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Dàn nhạc chơi giai điệu mới “Đoàn quân Việt Nam đi”, các lãnh đạo Việt Minh tuyên bố lệnh Tổng khởi nghĩa.
Đoàn người chia làm nhiều ngả chiếm Bắc Bộ phủ, Dinh Toàn quyền, Trụ sở bảo an và các địa điểm quan trọng khác. Họ hầu như không gặp sự chống đối nào, ngoại trừ một chút khó khăn ở Bắc Bộ phủ. Lính dân vệ đồn trú ở đây đã chống trả đội quân do Nguyễn Khang dẫn đầu. Nhưng chỉ đánh nhau được một chút, viên sĩ quan chỉ huy đã xin hàng. Lực lượng Việt Minh trèo qua hàng rào, và chẳng mấy chốc cờ đỏ sao vàng đã tung bay trên ban công của tòa nhà.
Sau khi đàm phán, quân Nhật tuyên bố sẽ không can thiệp. Uỷ ban Cứu quốc bù nhìn hoàn toàn bị tan rã. Đến cuối ngày, toàn bộ thành phố đã nằm trong tay quân khởi nghĩa mà không phải đổ giọt máu nào. Đoàn diễu hành đi khắp các phố hát vang những bài ca cách mạng và hô khẩu hiệu đòi độc lập dân tộc. Chắc chắn là rất ít người trong số họ hiểu Việt Minh là ai và tại sao lại có thể đại diện cho dân tộc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh Thái bình dương đã kết thúc và viễn cảnh được đá đít Pháp cũng đã đủ để ăn mừng.
Như vậy đúng là Việt Minh đã “cướp” chính quyền từ tay chính phủ lâm thời của Trần Trọng Kim. Vậy nhân vật này là ai?
Thưa thầy, có phải là nhà lịch sử, tác giả của cuốn Việt nam sử lược không ạ? Tại sao ông ấy lại dính đến chính trị vậy?
Đúng là ông ấy. Wikipedia viết
“Trần Trọng Kim là một học giả, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ Thần. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử, văn hóa như Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm, Nho giáo…”
Muốn biết tại sao ông lại “dây” vào chính trị thì phải quay ngược lại lịch sử một chút. Năm 1905, hạm đội Nhật bản đánh tan hạm đội Nga tại eo biển Tsushima, rửa mặt cho các nước châu Á, da vàng, bị châu Âu da trắng đè nén. Tiếp đà đó, vào cuối những năm 1930, Nhật tự xưng là anh cả, đánh chiếm lại thuộc địa của các nước châu Âu như Anh, Hà lan, Pháp để xây dựng khối Đại Đông Á, đồng văn đồng chủng. Ngày 9/3/1945, Nhật chính thức lật đổ chế độ cai trị của Pháp tại Việt nam, bắt nhốt hết lính Pháp, và trao lại “độc lập” cho vua Bảo Đại, là người đứng đầu của nhà nước có tên là “Đế quốc Việt nam.” Rất oách.
Wiki kể tiếp:
Theo lời kể của đại thần Phạm Quỳnh, quân Nhật đi tìm tất cả các quan trong Viện cơ mật và giữ họ lại một chỗ. Đến sáng 9/3, khi đã đưa được Bảo Đại về kinh đô, đại sứ Nhật là Yokoyama đưa cho họ 2 văn bản đã viết sẵn: Bản tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước nhà Nguyễn đã ký với Pháp và Bản tuyên bố giải tán Viện cơ mật, tất cả nhằm dọn đường cho việc thành lập nội các Đế quốc Việt Nam. Yokoyama nói thẳng “tôi cho các vị 15 phút để suy nghĩ”. Trong hoàn cảnh đó, các quan nhà Nguyễn không muốn ký cũng không được. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, thành lập Đế quốc Việt Nam. Vua Bảo Đại liền giải tán Hội đồng cơ mật gồm Thượng thư sáu bộ, tuyên bố từ nay sẽ tự mình cầm quyền nhưng bên cạnh nhà vua là viên Đại sứ Nhật ở Đông Dương Yokoyama làm ‘Tối cao cố vấn’.
Chỉ huy quân Nhật, tướng Tsuchihashi Yuitsu, nghĩ rằng chỉ cần Việt Nam độc lập trên danh nghĩa và chính phủ mới của Việt Nam phải được Nhật kiểm soát chặt chẽ. Thoạt đầu Phạm Quỳnh được chỉ định tạm quyền nhưng ông này quá thân Pháp, ngoài ra ông ta thấy ngay “nền độc lập” có những giới hạn như giống như hồi còn chế độ thuộc địa Pháp: không có tự chủ về ngoại giao, không có quân đội, không có độc lập tài chính… Nhật liền đưa một nhân vật ôn hoà hơn chính là Trần Trọng Kim, đang ở Singapore về làm thủ tướng. Theo Daniel Grandcléme, nhà vua Bảo Đại chẳng có vai trò gì trong việc chỉ định này.
Ngày 17/4/1945, Bảo Đại, người đứng đầu Đế quốc Việt Nam đã phê duyệt chính phủ do Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Dù bị chết yểu trong 4 tháng, thì đây cũng là một chính phủ hiện đại đầu tiên của Việt nam, gồm các nhà trí thức luật sư, bác sĩ, kỹ sư:
- Trần Đình Nam (1896-1974) y sĩ Đông Dương, Bộ trưởng Nội vụ.
- Trần Văn Chương (1898 – 1986), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Ngoại giao.
- Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Tư pháp.
- Vũ Văn Hiền (1911-1963), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng tài chính.
- Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), Giáo sư, Thạc sĩ toán học, Bộ trưởng giáo dục và Mỹ thuật.
- Vũ Ngọc Anh (1901-1945), Bác sĩ Y khoa, Bộ trưởng Y tế và Cứu tế.
- Hồ Tá Khanh (1908-1996), Bác sĩ Y khoa, Bộ trưởng Kinh tế.
- Nguyễn Hữu Thí (1899-?), Y sĩ, thương gia, Bộ trưởng Tiếp tế.
- Phan Anh (1911-1990), Luật sư, Bộ trưởng Thanh niên.
Ngoài các thành viên Nội các, nhiều nhà trí thức có tiếng cùng tham gia công việc của chính quyền: Phan Kế Toại (Khâm sai Bắc bộ), Bác sĩ Trần Văn Lai (Thị trưởng Hà Nội), Giáo sư Nguyễn Lân (Thị trưởng Huế), Phó bảng Đặng Văn Hướng (Tỉnh trưởng Nghệ An), Phó bảng Hà Văn Đại (Tỉnh trưởng Hà Tĩnh), Giáo sư Đặng Thai Mai (Tỉnh trưởng Thanh Hóa)… Các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Ngụy Như Kontum, được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu được mời làm Cố vấn đặc vụ ủy viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ.
Vậy đấy, thực ra là Trần Trọng Kim chẳng hào hứng gì với vai trò thủ tướng này cả. Chính vì thế khi Nhật đầu hàng đồng minh, ông ta cũng xin từ chức luôn. Sau khi Bảo Đại thoái vị, đa số các vị trong chính phủ này sau đó đã chuyển sang tham gia vào chính quyền Việt Minh do HCM lãnh đạo.
Em thấy có nhắc đến nhân vật Phạm Quỳnh, một đại thần suýt nữa trở thành thủ tướng. Ông này có phải là tác giả của câu nói “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” đúng không ạ?
Chuẩn rồi đấy. Nhưng ông không gặp may. Trong cuộc “gió bụi đầy trời” mùa thu năm ấy, ông đã bị Việt Minh xử bắn.
Tạm thời thế đã nhé, giờ chúng ta quay sang vấn đề thứ hai, về sự kiện ngày 23/9/1945. Xem Duiker viết gì nào?
Nam Bộ tỏ ra khó nhằn đối với Việt Minh. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, tất cả các lãnh đạo Đảng hoặc chết hoặc đang ở trong trại giam. Các đảng phái dân tộc chủ nghĩa mọc ra như nấm dưới sự cai trị của Nhật, hô hào khẩu hiệu nhái theo học thuyết Monroi: “Châu Á của người châu Á”. Chính quyền Pháp thì bám vào tầng lớp thị dân Sài Gòn và một số thành phố thuộc đồng bằng sông Cửu long.
Trong hoàn cảnh đó, cựu học viên của trường Stalin, Trần Văn Giàu, sau khi trốn khỏi nhà tù, quyết định xây dựng lại từ đầu. Vì mất liên lạc với TƯ, xứ uỷ Nam kỳ quyết định hành động theo chỉ thị của Hội nghị 6 năm 1939, kêu gọi chuẩn bị lực lượng để tổng khởi nghĩa. Không có rừng núi như Việt bắc làm chiến khu, Giàu tập trung nỗ lực vào khu đô thị Sài Gòn – Chợ lớn, cùng lúc xây dựng phong trào tại các vùng nông thôn.
Đầu năm 1945, Đảng đã điều khiển được hoạt động của hơn 70 tổ chức công đoàn gồm gần 3000 công nhân. Sau cuộc đảo chính tháng 3, lợi dụng tình hình nhốn nháo, Đảng thừa cơ nắm quyền lãnh đạo tổ chức Thanh niên Tiền phong do Nhật dựng lên. Dưới sự lãnh đạo của Phạm Ngọc Thạch (con trai ông Phạm Ngọc Thọ, người đã từng gặp Hồ ở Quy nhơn khi Hồ trốn vào nam năm 1908), tổ chức này đã phát triển nhanh chóng, và đến tháng 8 năm 1945 đã có hơn 1 triệu thành viên ở tất cả các tỉnh của Nam Bộ.
Ngày 14/8, Nhật chuyển giao quyền lực. Thừa cơ, ngày 16, khi Sứ thần của Bảo Đại là Nguyễn Văn Sâm chưa đến nơi, các phần tử dân tộc không cộng sản lập ra Mặt trận Quốc gia Thống nhất, chiếm lấy chính quyền.
Cũng lúc đó, ngày 14, Giàu đã họp các đồng chí của mình để chuẩn bị khởi nghĩa. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm cay đắng từ năm 1940, nhiều người do dự vì Việt Minh không có vũ khí để vũ trang cho dân quân và Thanh niên Tiền phong. Thêm vào đó, họ cũng chẳng có thông tin gì về kế hoạch của các đồng chí phía Bắc. Cuối cùng cuộc họp quyết định khởi nghĩa “thử” ở một số xã nông thôn, rồi sẽ xem tiếp. Cuộc thử nghiệm đã diễn ra suôn sẻ ở Tân An, một thị trấn nhỏ phía Nam Sài Gòn.
Ngày 20, sau khi nghe tin Hà Nội thành công, Giàu đã yêu cầu Mặt trận Quốc gia từ chức vì quá dính líu với Nhật, chắc chắn sẽ không được Đồng minh chấp nhận. Giàu thông báo chỉ có Việt Minh mới được sự hỗ trợ hoàn toàn của Đồng minh. Đang hoang mang, Mặt trận lại được tin Bảo Đại đã gửi điện đề nghị Hà Nội lập chính phủ cộng hoà thay thế Trần Trọng Kim, cả hội vội vàng giải tán. Ngay lập tức Giàu thành lập Uỷ ban Nam Bộ do chính ông làm chủ tịch, triệu tập cuộc họp Xứ uỷ, quyết định khởi nghĩa vào ngày 25.
Sáng 25, các đội xung phong chiếm các trụ sở và nhà máy. Nông dân rầm rập tiến vào từ ngoại ô, hô vang khẩu hiệu: “Đả đảo đế quốc, đả đảo thực dân, Việt Nam của người Việt Nam, Tất cả chính quyền cho Việt Minh. Tuy Việt Minh tránh đối đầu với quân Nhật, vẫn xảy ra những cuộc đụng độ với người châu Âu. Đã xảy ra một số vụ thảm sát người châu Âu trên đường phố Sài Gòn. Chiều ngày 25, Uỷ ban Nam Bộ với 6 thành viên là Việt Minh đã tuyên thệ nhậm chức chính quyền tạm thời. Đài Việt Minh thông báo: “Khởi nghĩa đã thắng lợi tại thành phố Sài Gòn”.
Nhưng chính quyền mong manh ở phía Nam phải đối mặt với nhiều đe doạ trực tiếp. Sau những sự kiện lộn xộn ngày 25/8, Uỷ ban Nam Bộ bắt đầu ổn định tình hình và thâu tóm quyền lực để chuẩn bị đón quân đội chiếm đóng Anh. Vài ngày sau, Hoàng Quốc Việt được TƯ phái vào. Việt đã khuyên Giàu tránh đối đầu với quân Anh. Trên thực tế, Xứ uỷ Nam Bộ đã bị mất liên lạc với TƯ và đã quen tự quyết định tình hình. Thậm chí, khi Việt vào, Giàu mới biết nhân vật kỳ bí Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Bởi thế các đồng chí phía Nam không nhiệt tình lắm với những đề nghị của Việt, chưa kể nhiều khi Việt còn ra vẻ như cấp trên ra lệnh.
Ngày 2/9, đám đông tụ tập trước dinh Norodom để chào mừng độc lập và nghe truyền thanh bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh. Trong lúc đó, căng thẳng với kiều dân Pháp vẫn rất cao. Khi những người biểu tình đang rầm rộ tiến vào Rue Catinat thì tiếng súng bỗng đột nhiên vang lên tại quảng trường Nhà thờ. Đám đông trở nên bị kích động, thanh niên ùa vào những ngôi nhà lân cận để tìm kẻ bắn lén. Lộn xộn xảy ra, cha cai quản Nhà thờ Tricoire đang đứng trên thềm thì bị trúng đạn chết ngay tại chỗ. Bạo lực lan nhanh, nhà cửa bị đập phá, cửa hàng bị hôi của, đám đông đi tìm người châu Âu để đánh. Báo chí Pháp gọi ngày này là Ngày Chủ nhật đen. Bốn người chết và hàng trăm người bị thương.
Vài ngày sau, Giàu ra lời kêu gọi các đồng chí của mình duy trì kỷ luật, kiềm chế tránh bị lôi kéo vào những hành động manh động. Ngày 12/9 Sư đoàn Gurkha số 20 của tướng Douglas Gracey đến Tân sơn nhất cùng với một số đơn vị quân Pháp. Gracey, con của một quan chức thực dân ở Ấn Độ, tốt nghiệp Sandhurst, dáng khắc khổ, với bộ ria mép đặc trưng cho các vị tướng Anh. Con đường binh nghiệp của Gracey chủ yếu ở các nước thuộc địa châu Á. Ông được binh lính kính trọng vì lòng dũng cảm và công bằng. Tuy nhiên ngay từ những ngày đầu tiên, ông thực dân này đã gặp phải những vấn đề lớn. Xuất phát từ nguồn gốc của mình, Gracey coi việc các dân tộc châu Á phải bị cai trị là đương nhiên. Thêm vào đó là sự thiếu nhất quán trong lãnh đạo Đồng Minh. Khi ở Rangoon, Gracey được giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ quân đội đồng minh ở Đông Dương phía dưới vĩ tuyến 16. Tuy nhiên, trên đường hành quân, tướng Slim chỉ huy quân Anh ở Đông Nam Á lại chỉ đạo
Gracey chỉ tập trung kiểm soát một số vùng trọng yếu, còn lại để mặc quân Pháp, trừ khi Pháp yêu cầu hoặc có lệnh của tướng Mountbatten, chỉ huy toàn bộ quân đội Đồng Minh tại Đông Nam Á (trụ sở tại Ceylon). Thực tế là Slim đã trả lại nửa nam của Đông Dương cho Pháp.
Sài Gòn khi Gracey đến không yên bình. Quân Nhật đầu hàng làm thành phố hầu như không có chủ. Cảnh sát Việt Nam chẳng biết phải báo cáo cho ai. Ngày 8/9, Giàu kêu gọi dân chúng bình tĩnh và hợp tác với Uỷ ban Nam Bộ và ngay lập tức bị các thành viên phê phán về thái độ hoà hoãn, thậm chí còn nghi ngờ Giàu là “tay sai” của Pháp. Hôm sau Uỷ ban bị cơ cấu lại, Giàu phải từ chức, Việt Minh chỉ còn 4 trong số 13 thành viên.
Ngày 12/9, một số tù binh Pháp được quân Pháp đi theo Gracey giải cứu ùa ra đường, đập phá và tấn công những người Việt Nam cho bõ tức. Gracey ra lệnh cho quân Nhật tước vũ khí của các đơn vị Việt Nam, đuổi Uỷ ban Nam Bộ ra khỏi toà nhà Thống sứ. Bộ chỉ huy Anh tuyên bố sẽ trực tiếp cai trị cho đến khi chế độ thực dân Pháp được phục hồi. Trong vài ngày sau, các đơn vị Anh đã tuần tiễu khắp đường phố và đuổi quân “phiến loạn” ra khỏi những vị trí trọng yếu.
Giàu nhận được lệnh từ Hà Nội tìm mọi cách tránh đối đầu trực tiếp, âm thầm sơ tán các đơn vị Việt Minh ra ngoại ô. Uỷ ban Nam Bộ cũng bắt đầu thương lượng với đại diện Pháp Jean Cedile, đã nhảy dù xuống Nam Bộ từ 22/8. Tuy nhiên như nhà ngoại giao Pháp Bernard de Folin ghi lại, đây là cuộc đối thoại của 2 người câm, mặc dù có sự trợ giúp đắc lực của Peter Dewey từ OSS. Pháp chỉ chấp nhận nói chuyện về độc lập sau khi chế độ cai trị thực dân được khôi phục lại. Đến giữa tháng 9, Phạm Văn Bách lúc đó là chủ tịch Ủy ban Nam Bộ hiểu rằng các cuộc đàm phán là vô nghĩa, Uỷ ban kêu gọi tổng bãi công vào ngày 17. Ngay lập tức Gracey ban bố thiết quân luật, thả tất cả quân Pháp (chủ yếu là lính lê dương), trang bị vũ khí và đề nghị Pháp lập lại trật tự. Đụng độ đã xảy ra giữa quân Việt Nam và Pháp.
Đêm 22/9, Cedile ra lệnh cho quân Pháp chiếm lại tất cả các vị trí trọng yếu và đuổi Uỷ ban ra khỏi trụ sở mới là toà Thị chính Sài Gòn.
Sáng hôm sau ngày 23/9, 22.000 người Pháp hân hoan biết rằng Sài Gòn lại nằm dưới quyền cai trị của họ. Người Pháp tràn ra phố đánh đập bất cứ người Việt Nam nào bất kể trẻ già, trai, gái mà chúng gặp trên đường.
Đầu tháng 10, quân Pháp do Leclerc chỉ huy đã tiến vào Nam Bộ, vài ngày sau, tại Cung Sportif, Grace đã ký hiệp định giao lại toàn quyền cai trị Việt Nam từ dưới vĩ tuyến 16 cho Pháp.
Tại Hà Nội, Hồ Chí Minh lên đài kêu gọi cả nước ủng hộ miền Nam, thề sẽ thống nhất đất nước. Tại miền trung, nhiều nơi, cả làng sục sôi hưởng ứng Nam tiến đánh Pháp. Tuy nhiên trong chỗ thân tín, Hồ khuyên các cộng sự phải kiên nhẫn, “từ kinh nghiệm lịch sử, chỉ có trường kỳ kháng chiến mới giành được thắng lợi”.
Thế đấy các em ạ. Nam bộ gần như chưa có một ngày được độc lập và Nam bộ lại kháng chiến. Ngày 25/9, một thanh niên Việt nam yêu nước thuộc tổ chức Thanh niên xung phong có tên là Tạ Thanh Sơn, chỉ với kiến thức âm nhạc học trong trường phổ thông, đã sáng tác một ca khúc lay động lòng người, tồn tại mãi với thời gian. Dù đó cũng là sáng tác duy nhất của ông.
Mùa thu rồi, ngày 23, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
Rền vang trời lời hoan hô, dân quân Nam cùng nhau tiến ra trận tiền
Thầy thích đoạn miêu tả người “dân quân Nam”
Thuốc súng kém, chân đi không, mà lòng người giàu lòng vì nước
Nóp với giáo mang ngang vai, nhưng thân trai nào kém oai hùng
Và đặc biệt xúc động với những câu cuối
Ta đem thân ta liều cho nước, Ta đem thân ta đền ơn trước
Muôn thu sau lưu tiếng anh hào, Người dân Việt lắm chí cao.
Năm 1999, khi được giao nhiệm vụ xuất khẩu phần mềm, thầy đã sửa lại lời một chút bài hát này
Mùa thu rồi, ngày hôm nay ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
Mười năm rồi lòng chưa thay, FPT đồng tâm tiến ra nước ngoài.
Thiếu kiến thức hai tay không mà phần mềm phải làm vì nước
Bán máy nhái, chơi phi-tin, nuôi công ty nuôi những anh tài
Nhưng thầy vẫn giữ nguyên 4 câu cuối. Giai đoạn đầu của chiến
dịch XKPM này thực sự khó khăn.
Mỗi lúc tưởng như tuyệt vọng, bọn thầy lại hát bài hát này. Chúng ta là “người dân Việt lắm chí cao.” Thấy như được tiếp thêm sức mạnh của cha ông. Mà suy cho cùng liệu chí chúng ta có thật là cao hay không, đến giờ vẫn là câu hỏi lớn, đúng không các em.
Vậy thầy có thể hát cho bọn em nghe được không ah?
Dễ quá. Có điều bọn thầy có thói quen là đã bắt đầu hát thì không thể dừng lại được đâu. Nên chúng ta sẽ để dành khi liên hoan nhé. Còn bây giờ, thầy muốn bọn em đọc và ngẫm nghĩ về cách Duiker đã đánh giá Cách mạng tháng Tám:
Đến mùa thu năm 1945, bức tranh về Cách mạng tháng Tám trở nên rõ ràng hơn. Tuy đa số lãnh thổ vẫn do quân Tưởng chiếm đóng, Việt Minh kiểm soát phía Bắc chủ yếu nhờ sự hồ hởi vì độc lập của dân chúng và hình ảnh huyền thoại của chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại miền Nam, quân Pháp đã khôi phục lại chế độ thuộc địa, Việt Minh đang xây dựng những căn cứ địa tại nông thôn.
Đối với Hồ Chí Minh, diễn biến trên chính trường quốc tế mới là điều quan trọng. Hồ muốn nhờ tay nước ngoài để ngăn chặn tham vọng thực dân của Pháp. Kinh nghiệm lâu năm cho Hồ biết Stalin chẳng quan tâm gì đến châu Á và không thể ảo tưởng về sự giúp đỡ của Liên Xô. Tuy nhiên cũng khó có khả năng là Liên Xô sẽ ủng hộ Pháp. Hồ biết rõ về những tư tưởng chống thực dân ở Mỹ, tuy nhiên hy vọng Mỹ giúp đỡ thật là mong manh. Nếu liên minh Xô – Mỹ chuyển thành thế đối đầu, Việt Nam sẽ bị kẹt trong thế mâu thuẫn toàn cầu mới. Tại hội nghị Tân Trào, H, khi đó vẫn là Nguyễn Ái Quốc đã tiên đoán: rất có thể vì lo sợ trước cách mạng thế giới, Mỹ sẽ quay sang ủng hộ Pháp.
Mặc dù con đường phía trước còn đầy chông gai, thực tế là Việt Minh đang nắm chính quyền tại Hà Nội. Sau này nhiều nhà sử học của Đảng đã hơi tâng bốc vai trò lãnh đạo tài tình của Đảng, rằng Cách mạng tháng Tám là điển hình kết hợp giữa nông thôn và thành thị, là hình mẫu cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thứ Ba… Gần đây nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng đây là một cuộc nổi dậy có tính ngẫu hứng, rất ít có kế hoạch và chỉ đạo. Một số còn gọi đó là cuộc đảo chính. Những nhận xét này cũng có phần đúng, Lênin đã từng nói thực tế cách mạng phức tạp hơn nhiều so với lý thuyết cách mạng và bất cứ cuộc cách mạng nào cũng có yếu tố ngẫu nhiên. Mặc dù có thể Đảng đã dự trù nhiều thứ ở Tân Trào, khi Nhật đầu hàng, cuộc nổi dậy đã diễn ra có phần bột phát. Nhiều cơ sở đảng chẳng có liên hệ gì với TƯ, cứ tuỳ cơ ứng biến mà làm. Nạn đói khủng khiếp hoành hành trước đó vài tháng làm nhân dân nổi giận cũng giúp cho cuộc nổi dậy thành công nhanh chóng.
Tuy nhiên cũng phải thừa nhận Cách mạng tháng Tám là một thành công to lớn của Đảng. Không thể có một cuộc cách mạng nếu không có những người cách mạng. Trong khi các phần tử dân tộc chủ nghĩa co ro nằm chờ ở Nam Trung Hoa thì Việt Minh đã dám chấp nhận thử thách và đã chớp được cơ hội tại thời điểm cuối của cuộc chiến tranh Thái bình dương, đặt thế giới vào một sự đã rồi “Fait accompli”.
Bằng cách sử dụng Việt Minh như một mặt trận rộng rãi với chương trình thu hút tất cả các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh đã mở rộng đáng kể phạm vi ảnh hưởng của Đảng cộng sản. Không những thế, Việt Minh còn giúp Hồ kêu gọi sự công nhận của các nước đồng minh thắng trận như đại diện hợp pháp cho các quyền lợi dân tộc. Hình ảnh ôn hoà đó chính là hình ảnh của Hồ Chí Minh, một “người đơn giản là yêu nước”, mặc áo kaki và đi dép cao su, đã chiếm trọn trái tim hàng triệu người Việt Nam và những người gần gũi với Hồ như Charles Fenn, Archimedes Patti, Jean Sainteny, Tướng Leclerc.
Chiến lược của Hồ không phải là hoàn hảo. Chương trình hành động của Việt Minh chỉ là điểm khởi đầu và sau này, rất có thể dân chúng sẽ thất vọng. Nhưng Hồ Chí Minh luôn luôn là một con người thực dụng. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Mỹ Harold Isaacs cuối năm 1945, Hồ nói: “Độc lập là một sự kiện. Cái gì phải đến sau đó sẽ đến. Nhưng độc lập phải có trước, không phụ thuộc sau đó sẽ là cái gì”. Có giữ được độc lập hay không là một chuyện khác “chúng tôi đang đơn độc, và chúng tôi phải phụ thuộc vào chính mình”. Hồ nói với Isaacs, chấp nhận cuộc chơi đầy khó khăn phía trước.
—
One thought on “Chuyện với Thanh – P3.C10: Gió bụi đầy trời”
Comments are closed.