Chuyện với Thanh – P3.C9: Hồ Chí Minh

Phần 3: “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến”

Cả tuần sau, Thanh ra vườn Hồng ngồi cày lại biên bản các phiên điều trần trước tòa của Tống Văn Sơ. Ban đầu là một mình và sau đó là với sự trợ giúp của luật sư Loseby. Các luận điểm đối nhau chan chát. Rất thú vị.

Chính quyền Hong Kong rõ ràng là đã không ngờ tới sự đáp trả pháp lý mạnh mẽ như vậy, trong con mắt của các quan chức thực dân, mấy tay cách mạng An Nam khố rách áo ôm, được thả ra chẳng mừng quýnh. Phím trước mấy ông bạn Pháp, chở đến biên giới, thế là xong chuyện. Vừa nhẹ đầu, vừa được ông bạn biết ơn. Ai dè cuối cùng lại thành “tội phạm”, phải hầu mấy ông lỏi đó đi lúc nào ông ấy muốn. Lại còn phải trả tiền nữa.

Chào em, đang nghiên cứu gì vậy?

Em đang nghiên cứu lại hồ sơ phiên Tòa xử Tống Văn Sơ ở HK ạ. Luật sư Loseby siêu quá. Khéo em phải đi học luật.

Hehe, ai cũng làm luật sư, thì lấy ai làm thân chủ. Theo em thì NAQ đóng vai trò gì trong vụ án này?

Vow, câu hỏi của thầy hay quá. Em mới chỉ đến ý đến phần tranh luận của luật sư. Vậy NAQ đóng vai trò gì hả thầy?

Luật sư giỏi đến mấy, cũng chỉ là tư vấn thôi em. Ý chí và đường lối của thân chủ mới là quyết định. Bác Nguyễn Mạnh Hùng, giờ là bộ trưởng Bộ TTTT, trước đây là Tổng giám đốc Viettel, có đưa ra công thức thế này về vai trò của tư vấn và thân chủ:
Thành công của dự án tư vấn = Năng lực của thân chủ x Năng lực của tư vấn.

Nếu tư vấn rất giỏi mà thân chủ ngớ ngẩn, thì kết quả hiển nhiên là cũng chẳng ra gì.

Trong vụ này, NAQ tỏ ra là người đã nắm khá vững luật pháp nước Anh, và hành xử chuẩn mực trước khi có trợ giúp pháp lý. Như trong bài trước chúng ta đã trao đổi, anh kiên quyết chỉ nhận mình là Tống Văn Sơ, người Hoa. Và chỉ nói tiếng Anh. Chiêu này siêu đấy. Sau đó, khi đã có luật sư, mặc dù thực tế chúng ta không biết họ trao đổi với nhau cụ thể những gì, nhưng rõ ràng là giữa NAQ và Loseby đã hình thành một mối quan hệ cộng tác vững chắc và thân thiết, vượt xa giới hạn giữa thân chủ và luật sư. Chắc chắn là vụ này xuất phát từ năng lực to lớn của NAQ thuyết phục người đối thoại tin và ủng hộ những lý tưởng của anh.

Trong thời đại kinh doanh toàn cầu này, việc hiểu biết pháp luật là rất quan trọng. Nhưng niềm tin vào những hành động của mình còn quan trọng hơn. Lúc đó mới bảo vệ được quyền lợi của công ty mình trong môi trường đầy cạm bẫy.

Để thầy kể cho em một trải nghiệm cá nhân của bản thân. Đâu như năm 2007, bọn thầy vớ được 1 khách hàng sộp của Mỹ, công ty G, chuyên ngành hàng không có trụ sở ở Chicago. Pilot rất nhanh, thuận lợi, headcount tăng đều. Cuối năm làm kế hoạch, anh em phấn khởi. Lập hẳn 1 Business Unit riêng. Bảo vệ kế hoạch kinh doanh xong nhậu 1 trận đã đời. Sáng hôm sau thấy anh em hốt hoảng thông báo, tất cả các account từ Việt nam đều bị block, không vào được hệ thống máy chủ của khách hàng. Ngay sau đó thầy nhận được 1 email dài thòng từ luật sư của công ty bạn, thông báo: “chúng mày đã vi phạm 14 điều trong hợp đồng (bằng chứng đính kèm)”. Khổ anh em mình ngây thơ, thấy khách hàng chửi là vâng dạ nhận lỗi ngay, nên bị lưu lại làm bằng chứng để hại chính mình. “Vì thế nên thân chủ chúng tôi bằng thư này tuyên bố đơn phương hủy hợp đồng và sẽ xem xét các hành động pháp lý tiếp theo để bồi thường cho những thiệt hại mà các ông đã gây ra chúng tôi, ước tính cỡ xxx triệu USD, blah blah….

Thật là sét đánh ngang tai. Gần trăm anh em phút chốc mất việc. Thêm nỗi sợ, nghe nói dính vào pháp luật với Mỹ rách việc lắm, khéo lại bị cấm nhập cảnh thì hết đường làm ăn. Có người bảo, cứ lờ đi, xem nó làm gì được mình. Người khác lại phản đối, không được đâu, luật Mỹ phổ cập trên thế giới, có quan chức gì thuộc hãng nhà nước ta, cũng lờ đi không tham gia kiện, đến khi sang Ý bị nó bắt luôn kìa. Ờ nhỉ, phải cãi, mà cãi thế nào, mình làm sai, chứng cớ rành rành kìa!

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, bọn thầy tự thấy mình không có gì sai cả. Nhân viên mình làm việc chăm chỉ, tận tụy. Tất cả các sản phẩm đều là do khách hàng đưa ra yêu cầu, lại còn giám sát chặt chẽ, thường xuyên. Nếu có gì chưa đúng, thì khách hàng phải có trách nhiệm làm rõ, yêu cầu làm lại, chứ không thể hình sự hóa vấn đề được. Thêm nữa, bên Mỹ có là công ty giời, muốn kiện tụng thì phải thuê luật sư. Mà luật sư bên đó thì giá trên trời. Nếu ta mà thuê được luật sư rẻ, lấy trường trận chế đoản binh. Thì họ sẽ phải bỏ cuộc trước vì hết tiền thôi.

Có chiến lược rõ ràng, bọn thầy mới đi tìm luật sư. May quá được giới thiệu 1 luật sư trẻ đang làm việc cho một hãng nước ngoài tại Việt nam. Anh này nghe nói được cãi nhau với luật sư Mỹ, bảo vệ quyền lợi công ty VN thì rất hứng thú, nhận lời với mức thù lao chỉ là nếu thắng thì cho anh ấy đi Mỹ một chuyến. Sau khi đọc đi đọc lại hợp đồng, nghiên cứu tất cả các email trao đổi của bạn với quân ta, luật sư liền thảo ra 1 bức thư dài hơn, lời lẽ đanh thép hơn, phủ nhận toàn bộ lỗi của ta là do bị các bạn gài bẫy, đồng thời nêu ra 15 điểm trong hợp đồng mà bạn đã vi phạm. Đọc xong gửi đi thầy cũng thấy sướng:-)

Trao đổi vài hiệp, chắc đội bạn cũng thấy không dễ xơi, mà lại còn tốn tiền luật sư, nên cầu hòa. Thôi tao không kiện cáo gì bọn mày nữa. Không hợp nhau thì đường ai nấy đi. Đừng nhìn mặt bọn tao nữa.

Bọn thầy thở phào. Bỗng kế toán chợt nhận ra còn hóa đơn 3 tháng cuối cùng bạn chưa trả, coi như là mất đứt. Gần 300 ngàn chứ ít đâu. Tiếc đứt ruột.

“Đừng nhìn bọn tao nữa” là thế nào, mất tiền à? Một nhân viên của thầy, đẹp giai baby face đứng lên xung phong, để em đi đòi vụ này. Anh chỉ cần cho em 1 cái vé máy bay sang Mỹ. Thế là anh ấy bay sang Mỹ, tuần nào cũng đến dưới lễ tân nhà công ty đó “réo” tên giám đốc, đòi trả tiền 3 tháng lương chưa thanh toán. Được hơn 1 tháng, trên đường đi công tác, thầy thấy anh ấy gọi điện: anh ơi, nó đồng ý trả 2/3, có đòi nữa không? Thôi thế được rồi, nhưng em phải ở đó đến khi nhận được tiền.

Chỉ mấy hôm sau, quả nhiên là nhận được 2/3 số tiền mà suýt nữa bạn định xù mất.

Đấy, bọn thầy học được NAQ đấy, phải biết bảo vệ quyền lợi của mình. NAQ sau còn một lần nữa rơi vào tù tội, lần đó thoát hiểm còn ngoạn mục hơn.

Có phải lần mà HCM viết “Nhật ký trong tù” không ạ?

Đúng rồi đó.

Thế nào ạ, thầy kể đi

Bị bắt ở Túc Vinh ngày 29/8. Được ra tù ngày 10/9/1943 ở Liễu Châu sau khi được di chuyển qua hơn chục nhà tù. Ở Liễu Châu thêm 1 năm, về đến Pacbo ngày 20/9/1944. Trong thời gian ở tù, HCM đã viết 76 bài thơ, được tập hợp lại thành Nhật ký trong tù.

NKTT Có lẽ là tác phẩm có tính chất văn học nhất trong tất cả các tác phẩm do HCM viết ra. Sinh thời HCM đã thừa nhận: “Tôi cần tập trung để giải quyết vấn đề thực tế của cách mạng.” Nên chắc chắn không có thời gian đâu để thơ ca hò vè, nghệ thuật vị nghệ thuật. Tất cả tác phẩm của HCM đều có mục đích rất rõ ràng. Còn tán tụng là do người sau hết. Theo em thì HCM viết thơ để làm gì?

Ah, có thể để phản ánh chế độ nhà tù hà khắc, nêu lên tấm lòng trung kiên của người chiến sĩ cách mạng, kêu gọi bà con nổi dậy…

Nhưng mà viết cho bà con làm cách mạng, thì tại sao lại viết bằng chữ Hán?

Nelson Mandela nói: “If you talk to a man in a language he understands, that goes to his head. If you talk to him in his language, that goes to his heart.” Thử nghĩ xem, ai sẽ đọc thơ của HCM. Chỉ có thể là cai ngục. Thơ của cụ đánh vào trái tim của cai ngục đấy.

Đánh vào trái tim cai ngục thì được gì? Thì nó kính nể, đối đãi mình tử tế. Chưa kiểu tù nhân “ất ơ vô thừa nhận” như HCM, khéo giải đi, nó đẩy cái xuống vực là xong!

Hơn thế nữa em ạ, thơ Cụ còn đốn tim các trí thức như Khoa viên họ Trần, Chủ nhiệm Hầu ở phòng chính trị của Đệ tứ chiến khu Quốc Dân Đảng ở Liễu Châu và cuối cùng là Tư lệnh Trương Phát Khuê. Có thể nói tập thơ NKTT đóng vai trò quan trọng trong việc HCM được thả. Chính HCM đã viết bài Kết luận:

Sáng suốt, nhờ ơn Hầu chủ nhiệm,
Tự do trở lại với mình rồi;
Ngục trung nhật ký từ đây dứt,
Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người.

Như vậy là tuy mất 13 tháng giam cầm, HCM chẳng những đã thoát hiểm mà còn đạt được mục đích của mình là đặt được mối quan hệ trực tiếp với tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh quân Tưởng ở phía Nam, chuẩn bị cho những ngày tháng Tám sắp tới.

Các em sau này khởi nghiệp muốn thoát hiểm, nếu muốn học HC chắc chắn phải am hiểu thơ Đường (để thoát khỏi nhà tù Tưởng) và luật pháp (để thoát khỏi nhà tù Anh)!

Nhân vụ HCM bị bắt ở TQ này, em có câu hỏi khá băn khoăn, tiện thể muốn hỏi thầy luôn? À mà thôi, cái này chưa công khai được!

Thanh biết buổi học sau mình sẽ phải hỏi câu gì rồi

Thưa thầy, lần trước thầy đã nói, sau khi thoát hiểm ở HK, NAQ bước vào một giai đoạn “nằm im” mới. Nhưng lần trước nữa thầy lại nói, sau mỗi lần nằm im như vậy, là một lần bùng nổ. Vậy lần này là gì ạ?

Em quên mất là NAQ chỉ bùng nổ khi có sự kiện nào đó thực sự bùng nổ trên thế giới. Theo em là gì nào?

Thưa thầy, có phải chiến tranh thế giới thứ hai không ạ?

Đúng rồi, sự lớn mạnh nhanh chóng và nguy hiểm của Hitler và chủ nghĩa phát xít từ năm 1933 đã làm Stalin thay đổi quan điểm và coi chủ nghĩa phát xít như hiểm hoạ trực tiếp và quan trọng nhất của Liên xô cũng như phong trào cộng sản quốc tế. Đại hội 7 QTCS, đã lờ đi nhiệm vụ cách mạng vô sản và chính quyền xô viết do Đại hội 6 đề ra, nhấn mạnh sự nguy hiểm của chủ nghĩa phát xít và kêu gọi các đảng cộng sản kêu gọi và hợp tác với các đảng phái phong trào tiến bộ, nhằm thành lập mặt trận rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật.

Đoàn đại biểu Đảng cộng sản Đông dương tham gia Đại hội 7 do Lê Hồng Phong, một học trò cũ của NAQ dẫn đầu. Sau khi Đại hội 7 kết thúc, Nguyễn Ái Quốc đã chính thức xin phép về nước nhưng bị từ chối với lý do là tình hình Đông Dương rất phức tạp. Mùa hè năm 1936, Nguyễn Ái Quốc lại xin phép hồi hương qua đường Berlin và Paris. Giấy tờ đang được chuẩn bị thì chuyến đi bị huỷ do cuộc nội chiến Tây ban nha và sự khủng bố ở Pháp. Trong lúc chờ đợi, Nguyễn Ái Quốc đăng ký vào học tại Học viện các vấn đề dân tộc và thuộc địa (trường Stalin cũ) và chuyển đến một căn hộ độc thân ở phố Bolsaia Bronaia. Trong lúc rảnh rỗi Nguyễn Ái Quốc dịch các tác phẩm: Tuyên ngôn đảng cộng sản của MarxBệnh ấu trĩ tả khuynh, của Lênin ra tiếng Việt. Ông còn viết bản khoá luận về “Cách mạng ruộng đất ở Đông Nam Á”. Đối với một nhà hoạt động tích cực và ít quan tâm đến các lý thuyết giáo điều như NAQ, phải ngồi nhai giáo án khô khốc, dịch tác phẩm lý luận của những danh nhân hẳn phải là một cực hình. Tháng 6/1938 Nguyễn Ái Quốc viết một lá thư tuyệt vọng cho Trung ương QTCS: “Làm gì với tôi thì làm, cho tôi ở đâu thì ở, nhưng đừng bắt tôi bất lực và ở ngoài đảng.”

Chiến tranh cũng đang lan rộng ở Châu Á. Cuộc chiến khởi nguồn từ năm 1931 khi quân phiệt Nhật bất ngờ đánh chiếm Mãn châu và thành lập chế độ bù nhìn Mãn châu quốc. Từ đấy chúng tiến dần xuống phía nam, liên tiếp trong những năm sau, chiếm đóng các tỉnh Đông bắc quanh kinh đô cũ là Bắc Kinh. Ban đầu Tưởng Giới Thạch cũng không thực sự quan tâm đến cuộc chiến này tiếp tục chiến dịch quét sạch cộng sản ở bờ nam sông Dương Tử, làm Mao phải bỏ chạy lên Diên An. Năm 1937, Tưởng bị các đồng chí của mình bắt cóc khi đang đi thăm Tây an và buộc phải thay đổi thái độ. Lần thứ hai, liên minh Quốc-Cộng được thành lập nhằm chống lại sự xâm lược của Nhật. Cuộc chiến bùng nổ sau đó vài tháng sau trận đánh trên cầu Marco Polo.

Với sự giúp đỡ của Vassilieva, cuối cùng Nguyễn Ái Quốc được cho phép về Trung Quốc qua Trung Á. Ngày 29/9/1938, Nguyễn Ái Quốc ra khỏi trường. Hồ sơ của trường ngày 30/9 chính thức xác nhận sinh viên số 19 mang tên Lin được tốt nghiệp. Có thể võ đoán rằng với tình hình TQ diễn biến phức tạp, Matxcova cần người nắm vững thông tin về TQ.

Cuộc xâm lược của Nhật mang đến sự thống khổ cùng cực cho nhân dân TQuốc nhưng lại mở ra một cơ hội mới cho Nguyễn Ái Quốc. Ông phải có mặt ở Việt Nam bằng mọi giá.

NAQ rời Matxcova đầu thu 1938, đi tàu hoả qua những thảo nguyên Trung Á bát ngát. Sau vài ngày nghỉ ngơi ở Alma-Ata, Nguyễn Ái Quốc theo một đoàn xe qua Urumgi đến Lan châu, thành phố phía đông của con đường tơ lụa nổi tiếng thời Trung cổ. Đại diện của ĐCSTQuốc tại Lan châu đã giúp Nguyễn Ái Quốc đến Tây an. Tại đó tư lệnh quân giải phóng Trung Quốc (PLA) Vũ Thiếu Quân đã được lệnh của thượng cấp “phải tiếp đón một vị khách châu Á quan trọng, chăm sóc cẩn thận và hộ tống ông ta đến Diên An.” Ở Diên An hai tuần, Nguyễn Ái Quốc cùng với tướng Trạch Thiên Doanh nam tiến Quế lâm trên một đoàn 5 chiếc xe hơi với cái tên mới: Hồ Quang. Một cán bộ TQ đã viết hồi ký về HCM giai đoạn đó như thế này:

“Tôi làm việc với Hồ Chí Minh tại bộ chỉ huy Bát lộ quân ở Quế Lâm từ cuối năm 1938 đến mùa hè năm 1939. Chúng tôi sống với nhau trong một căn nhà rộng phía tây làng Lộ mã. Hồ Chí Minh khi đó lấy tên là Hồ Quang và nghe giọng, tôi cho ông là người Quảng Đông. Văn phòng của chúng tôi hoạt động như một câu lạc bộ kiêm thêm nhiệm vụ giáo dục và văn hoá. Có nhiều cán bộ, phụ trách từ sức khoẻ, tài chính đến tuyên truyền. Hồ Chí Minh vừa là cán bộ vệ sinh vừa là nhà báo. Ông có những tiêu chuẩn vệ sinh rất cao và sẵn sàng phê phán không khoan nhượng. Ông thiết kế bìa, đầu đề, viết rất nhiều bài và thơ cho Thời báo Sinh hoạt của chúng tôi lúc đó.

Ông tạo ấn tượng mạnh. Sáng dậy rất sớm, tập thể dục và quét nhà bụi mù lên, che miệng bằng một miếng vải. Công việc viết báo và thanh tra vệ sinh chiếm khoảng 1/3->nửa thời gian, còn lại chẳng hiểu ông viết cái gì đó rất thành thạo trên chiếc máy chữ ngoại quốc của mình. Lúc đó tôi không biết Hồ Quang là ai, nhưng biết là ông có thế lực. Một lần tôi có nhắc nhở ông ta chuyện gì đó, cũng bình thường thôi. Sáng hôm sau đã thấy cán bộ Đảng gọi lên hỏi: ai cho phép anh phê phán mọi người một cách bừa bãi?”

Thưa thầy, có vẻ như Quế lâm giống như Paris cuối chiến tranh thế giới thứ nhất. Và NAQ, bây giờ đã là Hồ Quang, sẵn sàng làm tất cả mọi việc, chờ đợi một sự kiện nào đó để hành động giống như Nguyễn Tất Thành hồi xưa?

Thông minh đấy, không bõ công thầy dạy. Thời điểm đó đây, ngày 20/6 quân Đức tiến vào Paris, buộc Pháp đầu hàng và dựng lên một chính quyền bù nhìn. NAQ ngay lập tức tổ chức cuộc họp có Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh nhận định “thất bại của Pháp là cơ hội to lớn của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải ngay lập tức tìm đường về nước để lợi dụng cơ hội này”.

Khi các đồng chí hỏi, về bây giờ thì lấy vũ khí ở đâu để đánh Pháp? Nguyễn Ái Quốc đã trả lời:

Đây là vấn đề quan trọng nhất của cách mạng. Nếu chúng ta có vũ khí bây giờ, ai sẽ là người cầm vũ khí. Vì vậy chúng ta phải về nước và động viên quần chúng. Khi nhân dân đứng dậy, họ sẽ có vũ khí!

Đây là một quyết định táo bạo, rất đúng tinh thần HCM. Phải hành động ngay khi có cơ hội. Sau này khi cách mạng tháng Tám đã thành công, có rất nhiều các lực lượng yêu nước khác cũng kéo về Hà nội, đề nghị chia sẻ quyền lãnh đạo, Duiker đã phải viết: “Nhưng Việt minh xứng đáng nhất, vì họ đã có mặt ở đó đúng lúc cần thiết”.

Thầy cũng rất tâm đắc triết lý của HCM về vũ khí. Chúng ta thường hay có tâm lý chuẩn bị sẵn mọi phương tiện, rồi mới hành động. HCM khác, ông cho rằng chính nhân dân được động viên sẽ là người tìm ra vũ khí. Làm thế nào để động viên được nhân dân?

Nguyễn Ái Quốc đã suy nghĩ về kế hoạch thành lập một mặt trận đồng minh mới để lôi kéo các thành phần yêu nước ngoài Cộng sản và được sự công nhận của Quốc dân đảng ở phía nam lúc đó do tướng Lý Tế Thâm, khét tiếng về vụ tàn sát cộng sản ở Thượng Hải năm 1927 lãnh đạo. Sau khi cân nhắc, ông đã quyết định lựa chọn cái tên là Việt Nam Độc lập đồng minh Hội, gọi tắt là Việt Minh. Rất đơn giản: ai muốn dành độc lập cho Việt nam, người đó là Việt Minh. Thực ra tên này đã được Hồ Học Lãm dùng để liên kết các đảng viên cộng sản và quốc dân đảng Việt Nam tại Nam ninh trước đó vài năm. Nguyễn Ái Quốc cũng mời luôn Lãm làm chủ tịch, còn Phạm Văn Đồng làm phó dưới cái tên Lâm Bá Kiệt. Dưới tấm áo mới, đoàn đã tiếp cận Lý Tế Thâm nhờ giúp đỡ trong việc huy động nhân dân cho cuộc chiến đấu tương lai ở Đông Dương. Tuy còn nghi ngờ, Lý đã đồng ý công nhận Việt Minh với điều kiện không để cho Đảng cộng sản thống trị.

Chuẩn bị có vẻ xong xuôi, ngày 28/1, sau khi ăn Tết âm lịch, Nguyễn Ái Quốc lúc đó đã lấy tên mới là Hồ Chí Minh cùng với Vũ Anh, Phùng Chí Kiên và Lê Quảng Ba và một số đồng chí khác lên đường về nước sau 30 năm. Họ vượt biên giới và từ đó xuôi về hang Cốc bó ở Pacbo cách biên giới khoảng hơn nửa dặm.

Sau này, HCM và các đồng chí của mình luôn nhớ lại những ngày ở Pacbo là những kỷ niệm khó quên nhất. Đốt lửa sưởi ấm, bắt cá, tắm suối, dịch sách, viết báo…

Võ Nguyên Giáp kể lại: “Hàng đêm chúng tôi ngôi quây quanh bếp lửa nghe Nguyễn Ái Quốc kể chuyện lịch sử thế giới và cách mạng như những đứa trẻ nghe chuyện thần thoại”.

Nhưng tất nhiên NAQ về nước không phải để kể chuyện cổ tích. Ông phải xây dựng lại lực lượng đã bị Pháp đánh cho tơi tả. Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai… đều đã bị bắt và xử tử. Cũng như ở Quảng châu, dưới danh nghĩa QTCS, ông chủ trì Hội nghị 8 được tiến hành ngày 10/5/1941 tại Pacbó. Mục tiêu chủ yếu của hội nghị là chính thức tuyên bố thành lập Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội). Tên gọi của tổ chức mới cho thấy trọng tâm chủ yếu của đảng là Độc lập và cho Việt Nam, chính thức từ bỏ quan điểm của hội nghị tháng 10/30 về việc thành lập liên bang Đông Dương, tiến tới tiến hành cách mạng thế giới. Nhiệm vụ của Việt Minh là chuẩn bị để giành chính quyền vào thời điểm thích hợp. Hai cương lĩnh chính của Việt Minh là độc lập dân tộc và công bằng xã hội. Chủ tịch của Việt Minh là một nhân vật còn mới lạ với công chúng: Hồ Chí Minh!

Vẫn cùng một phong cách lãnh đạo, như thời ở Quảng Châu, dưới danh nghĩa Việt Minh, ông cho xuất bản tờ báo Việt Nam độc lập (bán hẳn hoi để có giá) và thành lập Hội Cứu quốc. Trong các bài viết của mình, ông luôn nhắc đến việc dành độc lập cho đất nước như một nghĩa vụ thiêng liêng. Trong bài thơ “Việt nam lịch sử diễn ca”, ngay trang đầu Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Cuối bài này, ông còn liệt kê ra một loạt những mốc thời gian quan trọng của Việt Nam. Thời điểm cuối cùng là năm 1945, Việt Nam độc lập. Khi các đồng chí hỏi tại sao ông lại biết trước là năm 45 nước ta sẽ được độc lập, ông chỉ trả lời: để rồi xem.

Em thấy thanh thế thì có vẻ mạnh ạ. Nhưng thực lực thì vẫn chỉ có mấy con người đó, quanh quẩn trong mấy làng ở rừng, làm sao đánh được Nhật-Pháp để dành độc lập. Rốt cục vẫn cần phải có vũ khí.

Không thể áp dụng chính sách khởi nghĩa thành thị của Nga, không có được nông thôn rộng lớn của Mao, HCM cho rằng vấn đề không phải là phương pháp mà thời cơ. Trong lúc thời cơ chưa đến, phải kiên trì chờ đợi, xây dựng cơ sở chính trị rộng rãi, chuẩn bị lực lượng quân sự nhỏ để có thể chớp lấy thời cơ tiến hành khởi nghĩa và quan trọng nhất là tìm được sự nâng đỡ, hay bây giờ gọi là “bảo kê” của các đàn anh. Bằng việc thành lập Việt Minh, Nguyễn Ái Quốc đã chơi một canh bài đánh cược vào việc Nhật sẽ làm Pháp suy yếu và thắng lợi cuối cùng của Đồng minh. NAQ đã kết luận cuối bài thơ: “Dân ta xin nhớ chữ đồng, Đồng lòng, đồng sức, đồng tình, đồng minh”

Cuối năm 1943, khả năng đổ bộ của Đồng minh lên cao, Trường Chinh triệu tập hội nghị Ủy ban thường vụ tại Võng la. Ủy ban quyết định tuy tình hình còn căng thẳng nhưng có thể bắt đầu chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Nhưng họ đã hơi quá lạc quan. Toàn quyền Decoux quyết định xiết chặt kiểm soát và tiến hành các cuộc bố ráp và hành quân vào vùng của Việt Minh. Tháng 8/1943 Hoàng Văn Thụ bị bắt và tử hình. Trường Chinh thoát chết vì kịp thời cải trang thành nông dân.

HCM sau khi về nước từ TQ đã chỉ rõ: “quyết định mở cuộc tấn công ở Việt Bắc là chỉ dựa vào tình hình địa phương và chưa đánh giá tình hình cả nước. Do chưa có nơi nào có phong trào mạnh, nên sẽ không thể cùng đứng lên ủng hộ. Pháp sẽ dễ dàng có điều kiện tập trung lực lượng và đàn áp. Giai đoạn cách mạng hòa bình đã qua, nhưng thời khắc tổng tiến công vẫn chưa tới. Trước mắt các hoạt động tuyên truyền chính trị vẫn phải được ưu tiên”.

Để bảo đảm được thắng lợi, HCM hiểu rằng ông phải dành được sự ủng hộ của Mỹ, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Nam Trung hoa lúc đó đóng ở Côn minh do tướng không quân Claire Chennault phụ trách. HCM coi sự ủng hộ của Mỹ là quân chủ bài mà mình phải có để đánh Pháp, đuổi Nhật để dành độc lập. Trong thời gian ở Liễu Châu, Hồ đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu các tài liệu của thư viện Văn phòng Thông tin chiến tranh Mỹ (OWI). Hiển nhiên là Hồ biết Roosevelt không có cảm tình với chủ nghĩa thực dân châu Âu và ủng hộ việc trao trả lại độc lập cho các thuộc địa ở châu Á sau chiến tranh. Về Đông Dương, R đã từng nói: “Pháp đã vắt kiệt mảnh đất này trong 100 năm, các dân tộc Đông Dương xứng đáng một số phận tốt hơn thế”. Mặc dù thừa biết chế độ Mỹ là một chế độ tư bản, Hồ khâm phục cam kết của nước Mỹ với những nguyên tắc dân chủ và tin tưởng Roosevelt sẽ dẫn dắt nước Mỹ tiến tới bình đẳng hơn về kinh tế và xã hội.

Các viên chức Mỹ ở Nam Trung Hoa cũng đã biết đến HCM từ lâu trước khi ông được phóng thích khỏi nhà tù Tưởng. Năm 1943, OSS (tiền thân của CIA) cũng đã gặp đại diện Việt Minh. Mặc dù OSS báo cáo tương đối lạc quan về cuộc gặp gỡ, các quan chức Mỹ cho rằng đó các phần tử dân tộc chủ nghĩa VN tại Nam Trung Hoa chưa có đủ kinh nghiệm để điều hành đất nước và những hội, nhóm của họ không có ý nghĩa nào cả trong Đông Dương và với nước Mỹ. Các nguồn Pháp còn tung tin Việt Minh chỉ là bộ mặt cho vài trí thức bất mãn và không được dân chúng hưởng ứng.

Câu chuyện kết nối với quân Mỹ này của HCM và các đồng chí, đáng được dạy như kinh điển về phương pháp tiếp cận khách hàng. Bọn em ngày nay đều biết selfy đúng không, ngoài mục tiêu thuần túy là để tự sướng cho một cá nhân hoặc một nhóm bạn, còn là một tool làm hình ảnh cực kỳ hữu hiệu. Selfy được với người nổi tiếng, làm cho bạn có giá hơn trong con mắt khách hàng, đối tác. Biến selfy thành quan hệ làm việc thật sự với người nổi tiếng, bạn có cơ hội thành công rất cao. Theo nghĩa đó, HCM là một trong những bậc thầy về selfy. Từ thời chưa hề có smartphone. William Duiker đã miêu tả về chi tiết này rất sinh động.

Ngày 11/11/1944, máy bay trinh sát của trung úy Rudolph Shaw bị trục trặc động cơ và Shaw phải nhảy dù xuống những cánh rừng Việt bắc. Việt Minh là những người đầu tiên tìm ra anh ta. Shaw kêu lên: “Viet minh, Viet minh”, những người còn lại hét “America, Roosevelt!” và đó cũng là cuộc nói chuyện duy nhất của họ. Việt Minh quyết định đưa viên phi công đến chỗ Hồ Chí Minh. Đêm đi, ngày nghỉ để tránh quân Nhật, trèo đèo, lội suối, họ đã mất gần một tháng để vượt qua quãng đường có 40 dặm. Hồ chào đón Shaw bằng thứ tiếng Anh thông dụng: “How do you do, pilot! Where are u from?”. Viên phi công ứa nước mắt ôm chầm lấy Hồ và nói “tôi nghe giọng ông mà như nghe tiếng bố tôi ở Mỹ”.

Vụ trung uý Shaw tự nhiên lù lù xuất hiện trước cửa đã tạo cơ hội vàng để Hồ có thể đề nghị Mỹ giúp đỡ Việt Minh. Ngay lập tức, lấy cớ phải đi công tác cùng, Hồ đã cùng 2 chiến sĩ trẻ nữa hộ tống Shaw sang Côn Minh. Sang bên kia biên giới, Shaw bắt được liên lạc với tổ chức cứu trợ phi công Mỹ (AGAS) và được đưa ngay về Côn Minh bằng máy bay.

Không nản chí, Hồ quyết định đi bộ đến Côn Minh, trong vai người tuần đường trên tuyến đường sắt Hà nội-Côn Minh. Nếu gặp người có lòng, họ nghỉ đêm nhờ, còn không thì ngủ ngoài trời. Lúc qua Ylương, một thành phố nhỏ trên đường, cả đoàn đã gặp Hoàng Quang Bình, một người quen cũ cách đây 4 năm của Hồ ở Côn Minh, hiện đang hành nghề cắt tóc. Theo lời Bình, trông Hồ rất ốm yếu và trầm uất, ăn ít, quần áo thì rách rưới, giầy thủng lỗ chỗ, lại đang sốt do lây của những người đi đường. Vậy mà khi Bình nhắc đến chuyện từ chối sự lôi kéo của Đồng Minh Hội, mắt Hồ sáng lên. Hồ khuyên Bình phải gia nhập ngay Đồng minh Hội rồi tuyên truyền kéo người từ đó sang với Đảng. Sau khi ở lại Ylương vài ngày cho khỏe, cả đoàn lại lên đường và đến Côn Minh trong những tuần đầu tiên của năm 1945.

Đáng tiếc là khi đến nơi thì Shaw đã bay về Mỹ. Hồ ở lại cùng với Tống Minh Phương, đại diện Việt Minh tại địa phương, một sinh viên Hà Nội sang đây từ năm 1943, mở quán ngay cạnh trụ sở OSS. Hồ quyết định liên lạc với AGAS (Tổ chức cứu trợ phi công Mỹ), hy vọng có thể nhờ họ dàn xếp gặp mặt với tướng Chennault, tư lệnh Sư đoàn không quân số 14.

H đã cực kỳ gặp may và đến Côn minh đúng thời điểm. Cách đây vài tháng AGAS được chỉ thị ngoài việc cứu phi công còn phải tăng cường thu thập thông tin tình báo về quân Nhật trong Đông Dương. Nguồn chính của AGAS là nhóm được gọi là GBT (do tên đầu của 3 người: Canada LL Gordon, Mỹ: Harry Bernard và một người Mỹ gốc Tàu: Frank Tan). Nhóm này làm việc trong một hãng dầu và sử dụng các nguồn địa phương để thu thập tin tức.

Ngày 9/3/1945, Nhật chính thức truất quyền Pháp ở Đông Dương, những người nước ngoài bị thuyên chuyển, theo dõi, thậm chí bắt giữ. Nhóm GBT tháo chạy sang Nam Trung Hoa. AGAS mất một nguồn tin quan trọng. Các quan chức Mỹ ở Wasinhton tháo dỡ lệnh cấm, cho phép liên lạc với các nhóm kháng chiến chống Pháp để thu nhập tin tình báo (trước đây Mỹ từ chối liên lạc với các nhóm này vì sợ mất lòng Pháp).

Khoảng giữa tháng 3, người chịu trách nhiệm về GBT ở AGAS – trung úy thủy quân lục chiến Charles Fenn, được thông báo là có một cụ già đã từng cứu sống một phi công Mỹ, hiện đang ở Côn Minh và có thể có những quan hệ trong nước để thu thập tin tình báo. Trung úy Fenn vốn là một phóng viên sinh ra tại Ailen, được chuyển đến Trung Quốc vì biết tiếng Hoa và am hiểu châu Á. Fenn liền đề nghị sắp xếp cuộc gặp với Hồ, lúc đó đang suốt ngày ngồi tại thư viện OWI đọc từ tờ Thời báo đến Từ điển bách khoa Mỹ.

Cuộc gặp đã diễn ra ngày 17/3/1945 và được Fenn ghi lại trong hồi ký của mình như sau:

Hồ đi cùng với một thanh niên tên la Fam. Không hoàn toàn như tôi tưởng. Nhất là Hồ không “già”, tuy bộ râu bạc có dấu hiệu tuổi tác nhưng khuôn mặt đầy sức sống, đôi mắt tinh tường và ánh lên những tia sáng.

Chúng tôi nói bằng tiếng Pháp. Hồ đã gặp Hall, Blass và Sibours (những sĩ quan OSS khác) nhưng có vẻ như chẳng đi đến đâu.. Tôi hỏi ông muốn gì khi gặp bọn họ, Hồ nói: chỉ cần sự công nhận tổ chức của ông ta (Việt Minh). Đã từng nghe đến tổ chức này có xu hướng cộng sản, tôi liền hỏi luôn H. Ông ta trả lời: người Pháp gọi tất cả những người muốn độc lập là cộng sản.

Tôi giải thích những yêu cầu của AGAS và hỏi không biết ông có giúp được không? Hồ đồng ý ngay nhưng nói rằng ông ta không có điện đài viên cũng như các phương tiện kỹ thuật. Chúng tôi bàn với nhau về điện đài, máy phát và điện đài viên. Hồ đề nghị dùng pin thay cho máy phát vì sợ ồn dễ bị quân Nhật phát hiện. Tôi nói, pin không dùng được vì không đủ công suất.

Khi được hỏi muốn được chúng tôi giúp gì để trao đổi, Ho nói ngay: thuốc men và vũ khí. Tôi từ chối ngay vũ khí vì rất rách việc với Pháp. Chúng tôi lại thảo luận về Pháp. Hồ khẳng định lại Việt Minh là một tổ chức chống Nhật. Tôi rất ấn tượng về cách ăn nói gãy gọn của H. Nếu không để ý đến những ngón tay nhăn nheo luôn động đậy, dáng ngồi của ông ta rất giống Đức Phật. Fam ghi lại nội dung cuộc gặp và chúng tôi thống nhất sẽ gặp nhau nữa. Khi ra về cả hai để lại tên của họ viết bằng chữ Hán, có thể đọc phiên âm là Pham Phuc Pao và Ho Tchi Ming

Mấy ngày sau, Fenn thu xếp Hồ gặp tướng Chennault tại chỉ huy sở của sư đoàn 14, sau khi đã nhắc lại Hồ không được chính thức đề nghị giúp đỡ gì. Hồ đến cuộc gặp vẫn trong bộ kaki cũ, có điều một chiếc cúc cổ bị mất đã được đơm lại. Chennault là người đặc biệt thích phô trương bề ngoài của mình nên diện bộ đại lễ phục nhà binh. Viên tướng này nổi tiếng ở Trung Hoa nhờ chỉ huy phi đội “Phi Hổ” giúp Hoa kháng Nhật trong những năm 30. Trong cuộc gặp, Chennault cảm ơn Hồ đã cứu phi công Shaw và không đả động gì đến chính trị. Hồ cũng làm đúng như lời hứa, không đòi hỏi giúp đỡ gì, lại còn tỏ ra tâng bốc đội Phi Hổ.

Đến cuối buổi gặp, bỗng nhiên Hồ ngỏ ý xin một tấm ảnh có chữ ký. Chennault đặc biệt thích cho ảnh. Bởi vậy ông ta ấn nút gọi ngay thư ký riêng Doreen. Một cô gái mang vào một anbum dày 8×6. “Lấy một cái đi” Chennault nói. Hồ chọn một tấm và nhờ Ch ký tặng. Doreen đưa ra chiếc Parker 51 và Ch viết vào tấm ảnh “Bạn chân thành của anh, Clair L. Chennault”. Và chúng tôi chui ra khỏi căn phòng để hoà với không khí rộn ràng của Côn Minh.

Thế là HCM đã có được bức ảnh do chính tay “Bạn chân thành Chennault” ký tặng, xây dựng được quan hệ với những quan chức Mỹ chủ chốt ở Côn Minh. Một tuần sau đó, Hồ trở về Pác Bó với đoàn tháp tùng hơn 40 người, trong đó có điện đài viên người Mỹ, anh Mac Shin và Frank Tan, thành viên cũ của nhóm GBT. Trước khi lên đường, Hồ được Fenn cấp cho 6 khẩu Colt 45 mới cóng nguyên hộp.

Việt Minh bắt đầu cung cấp những thông tin bổ ích, trong đó có cả thời tiết, cứu sống một số phi công Mỹ. OSS cũng thả dù thêm một bộ điện đài, vũ khí và thuốc men. Việt Minh đã chính thức chiến đấu cùng với lực lượng đồng minh.

Mặc dù e ngại những rắc rối chính trị khi có quan hệ chính thức với Việt Minh, Patti vẫn được cấp trên là đại tá Helliwell “bật đèn xanh”, sau khi thấy rõ sự bất lực của đội tàn quân Pháp chạy trốn do tướng Gabriel Sabatier chỉ huy. Patti điện cho Hồ chuẩn bị một sân bay nhỏ để tiếp đón vũ khí và quân đội. Ngày 30/6 Hồ đồng ý tiếp nhận với điều kiện không được có người Pháp tham gia vào chiến dịch.

Trung uý Dan Phelan được thả dù xuống Tân trào từ trước làm đại diện cho OSS. Ngày 16/7, thiếu tá Allison Thomas cùng đội Con nai của OSS nhày dù xuống Tân trào để nghiên cứu tình hình và giúp đỡ Việt Minh chống Nhật trong sự chào mừng của hàng trăm du kích. Thomas kể lại:

Tôi được dẫn đến gặp Ông Hồ, một lãnh đạo lớn của VML (Việt Minh League). Ông ta nói tiếng Anh thành thạo, nhưng trông rất yếu vì mới đi bộ từ TQuốc về. Người ta đã dựng cho chúng tôi những cái lán tre có sàn cao và mái lợp lá cọ. Người ta còn giết một con bò để chiêu đãi, và chúng tôi được chén bữa tối gồm bia, cơm, măng rừng và beefsteak.

Trong lúc đó các sĩ quan Mỹ vẫn tiếp tục huấn luyện hơn 100 quân du kích cách sử dụng các loại vũ khí Mỹ (súng trường M1, carbin, bazooka) và các kỹ thuật chiến tranh du kích tại một địa điểm cách Tân trào khoảng 2 dặm. Henri Prunier, một “thầy” Mỹ tỏ ra rất ấn tượng về khả năng học hỏi nhanh của quân du kích. Hồ cũng nhanh chóng đả thông về mặt tư tưởng cho các sĩ quan Mỹ. Thomas đã viết trong một báo cáo gửi về Côn Minh: “Quên ngay mấy cái nghi ngờ vớ vẩn. Việt Minh không phải là cộng sản. Họ đấu tranh cho tự do và cải cách nhằm thoát khỏi sự tàn bạo của Pháp”.

Phelan cũng đã từng ngần ngại tham gia chiến dịch này vì nghe đồn là Hồ có tư tưởng cộng sản. Một lần Hồ hỏi Phelan có nhớ những câu mở đầu của tuyên ngôn Độc lập Mỹ để ông ta cho vào bản tuyên ngôn Độc lập của đất nước mình. “Nhưng rõ ràng là ông ta biết nhiều hơn tôi” Phelan nhớ lại và báo cáo Việt Minh “… là những người yêu nước đáng được sự tin cậy và giúp đỡ toàn diện”. Sau này, Phelan cũng không bao giờ thay đổi lập trường của mình. Nhiều năm sau, ông đã trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Robert Shaplen, miêu tả Hồ như: “Một con người cực kỳ dễ chịu. Nếu tôi phải chọn một tính cách của con người nhỏ bé đó, ngồi trên ngọn đồi trong những cánh rừng già, thì đó chính là sự dịu dàng của ông ta”.

Đầu tháng 8, sau khi nghe tin Mỹ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima, Hồ đã chỉ thị cho tổng bộ Việt Minh từ khắp nước ngay lập tức cử đại biểu về Tân trào để tham dự Quốc dân Đại hội. Ngày đại hội dự kiến là ngày 16/8. Hội nghị TƯ đảng lần thứ 9 được dự kiến họp trước đó 3 ngày. Qua chiếc radio của Thomas, Hồ cảm nhận được cuộc chiến đã đến hồi kết. Ngày 16/8 Tổng bộ Việt Minh tiến hành Đại hội Quốc dân tại Tân trào. Có hơn 60 đại biểu từ khắp nước về dự. Có người đã phải đi hàng tuần. Nhiều người mang theo quà là gạo và thịt. Một đại biểu dân tộc còn dắt theo cả một con trâu. Đại hội được tiến hành trong một ngôi đình 3 gian bên bờ suối. Gian trái treo ảnh Lênin, Mao và tướng Clair Chennault, gian giữa bày các vũ khí chiếm được của Nhật còn gian phải là thư viện kiêm luôn nhà ăn của các đại biểu. Sau khi Trường Chinh khai mạc, Hồ Chí Minh lên phát biểu. Do Ban tổ chức chỉ giới thiệu Hồ Chí Minh như một nhà cách mạng lão thành nên nhiều đại biểu cũng không rõ nhân thân của H. Tuy nhiên sau đó đã có tiếng thì thầm, Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc.

Đại hội đã phê duyệt “10 quốc sách” của Việt Minh, quyết định quốc kỳ, quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một quốc gia dân chủ, theo đuổi sự công bằng kinh tế và xã hội. Đại hội cũng bầu ra Uỷ ban giải phóng Dân tộc gồm 5 người do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, sẽ chỉ đạo khởi nghĩa và hoạt động như chính phủ lâm thời. Ngày hôm sau, Hồ đã cùng các đại biểu làm lễ tuyên thệ ngay trên bờ suối.

Bản “Kêu gọi khởi nghĩa” được phát ra:

Giờ quyết định cho dân tộc đã điểm. Hãy đứng lên giải phóng bản thân mình. Các dân tộc bị áp bức trên thế giới đều đang đua tranh giành lại độc lập, chúng ta không thể lạc hậu. Tiến lên, Tiến lên dưới ngọn cờ Việt Minh, Dũng cảm tiến lên.

Đây cũng là văn bản cuối cùng được ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Hay quá thầy, em tại sao những bài học của HCM đơn giản, có tính ứng dụng cao nhưng lại ít được phổ biến thế. Chắc cần phải in thành sách kiểu mỏng nhỏ bán/phát ở Lăng Bác.

Theo em thì tốt hết là thầy mở series podcast “Làm giàu theo phong cách HCM” bảo đảm ăn khách hơn.

Cho em tò mò, tại sao HCM đã đặt được quan hệ tốt với người Mỹ như thế mà cuối cùng hai bên lại sa lầy vào một cuộc chiến dai dẳng làm cho thân bại danh liệt

Câu hỏi đấy đã và đang làm đau đầu giới chính trị, lịch sử thế giới từ nửa sau thế kỷ 20 đến tận bây giờ đấy. Biết đâu em sẽ là người tìm ra câu trả lời.

Còn thực tế lúc đó người Mỹ đã chọn ủng hộ Pháp quay lại Việt Nam. HCM có lẽ cũng đã cảm thấy những cố gắng của mình nhằm xây dựng quan hệ chiến lược với Mỹ thông qua OSS không mang lại nhiều kết quả. Trong một bức thư gửi Charle Fenn vào giữa tháng 8, Hồ viết rất vui vì chiến tranh đã kết thúc, nhưng cũng rất buồn vì phải chia tay những người bạn Mỹ. Hồ tiên đoán “Khi các ông rời khỏi, quan hệ giữa chúng ta chắc chắn sẽ xấu đi”. Tháng 4, Truman lên thay Roosevelt chết vì bệnh, đã lờ đi không nhắc đến vấn đề độc lập ở Đông Dương nữa. Tháng 5, tại hội nghị San Francisco, phái đoàn Mỹ cho thấy rằng sẽ không phản đối nếu Pháp trở lại Đông Dương.

Sáng 23/9/1945, 22.000 người Pháp dưới sự ủng hộ của người Anh, hân hoan biết rằng Sài Gòn lại nằm dưới quyền cai trị của họ. Người Pháp tràn ra phố đánh đập bất cứ người Việt Nam nào bất kể trẻ già, trai, gái mà chúng gặp trên đường. Chỉ huy của OSS lúc đó tại Sài Gòn là trung tá Dewey. Chàng thanh niên 28 tuổi này tốt nghiệp đại học Yale, từng là phóng viên báo Tin tức Chicago, gia nhập OSS tại châu Âu, vốn là con của đại sứ Mỹ tại Pháp. Anh nói tiếng Pháp thành thạo nhưng lại căm ghét chế độ thực dân chẳng khác Patti. Dewey liền đến gặp Gracey để phàn nàn về sự lộng hành của quân Pháp. Gracey chẳng những không tiếp mà còn yêu cầu Dewey rời khỏi Đông Dương càng sớm càng tốt, cho rằng các hoạt động của OSS không có ích gì mà còn gây rối thêm.

Trưa ngày hôm sau, trên đường ra sân bay Tân sơn nhất, Dewey bị Việt minh bắn chết trên một chiến luỹ vì nhầm là người Pháp và trở thành người Mỹ đầu tiên chết trong cách mạng Việt Nam.

Và lịch sử đã diễn ra như chúng ta đã biết

One thought on “Chuyện với Thanh – P3.C9: Hồ Chí Minh

Comments are closed.